Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ
Trong lịch sử đấu tranh giành độc lập, tự do của dân tộc, những câu chuyện về mẹ - những người phụ nữ nhẫn nại chịu đựng mất mát nhưng vẫn giữ vẹn niềm tin luôn chạm tới sâu thẳm trái tim. Mẹ Nguyễn Thị Thứ là một trong những hình ảnh như vậy . Cuộc đời bà là chuỗi dài những hy sinh thầm lặng nhưng phi thường, trở thành biểu tượng cho bao bà mẹ Việt Nam đã đóng góp máu xương cho Tổ quốc.
Mẹ Thứ sinh tại xã Điện Thắng (huyện Điện Bàn, Quảng Nam cũ), được ghi nhận sinh năm 1904 (một số giấy tờ cũ ghi 1902). Bà sống cuộc đời bình dị của một nông dân miền Trung - lo toan cho gia đình, vun vén cho con cái, đồng thời âm thầm góp sức, che chở cán bộ, bộ đội trong những năm kháng chiến. Mẹ nhận danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng do Nhà nước phong tặng vào ngày 17 tháng 12 năm 1994 - một sự ghi nhận chính thức cho những hy sinh to lớn của gia đình mẹ.
Thời gian trôi qua, mẹ có đến 12 người con, gồm 1 con gái và 11 con trai. Cuộc đời mẹ Thứ nuôi con trong những năm tháng lận đận, đói nghèo nhưng theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, mẹ lần lượt động viên 9 người con ra chiến trường. Người con gái lớn cùng Mẹ bám trụ với xóm làng, vừa sản xuất, vừa đào hầm nuôi giấu cán bộ, du kích đánh giặc giữ làng.
Không có nỗi đau nào có thể đong đếm được khi 9 người con trai, 2 cháu ngoại và 1 con rể của Mẹ Thứ tiếp chân nhau ra trận rồi lần lượt hy sinh trong hai cuộc kháng chiến khốc liệt của dân tộc.
Mất mát đầu tiên, ngày 18/6/1948, người con trai thứ hai của Mẹ, chiến sĩ giao liên Lê Tự Xuyến bị giặc Pháp bắn ngay tại đầu làng khi đang làm nhiệm vụ. Nước mắt chưa vơi thì tin dữ lại đến, ngày 5/10/1948, người con trai Lê Tự Hàn Anh hy sinh khi làm nhiệm vụ tải thương, 10 ngày sau nữa, người con Lê Tự Hàn Em ngã xuống trong một trận chống càn. Chỉ trong 4 tháng, mẹ mất ba người con. Con trai Lê Tự Lem vừa tròn 20 tuổi, tham gia bộ đội huyện, đã hy sinh trong lúc chiến đấu với giặc vào đầu tháng 4/1954.
Nấm mồ này cỏ chưa kịp lên xanh, mẹ lại phải đắp thêm nấm mộ khác. Mỗi lần nghe tin một người con hi sinh, Mẹ cắn răng khóc thầm. Ðau thương không làm Mẹ gục ngã, Mẹ tiếp tục động viên những người con khác khác lên đường. Các anh rời nhà ra đi, nhiều đêm dài sau đó mẹ trằn trọc, thức trắng âu lo.
Ở hậu phương, từ chống thực dân Pháp qua đánh đế quốc Mỹ, trong khu vườn của Mẹ luôn có 5 căn hầm bí mật dưới bụi tre, gốc mít, nơi Mẹ và con gái đầu Lê Thị Trị nuôi giấu hàng nghìn lượt cán bộ, bộ đội, du kích. Bao đêm dài, Mẹ thao thức canh chừng nhiều cuộc họp quan trọng của cán bộ, chiến sĩ ngay dưới những căn hầm bí mật trong khu vườn nhà. Trên miệng hầm, Mẹ trồng thật nhiều cỏ, vừa để ngụy trang, vừa cho bò ăn. Lúc không có địch, hai mẹ con mở hé cửa hầm cho người ở dưới dễ thở, hễ có động lại giả vờ ra dắt bò, cắt cỏ để chỉnh sửa, ngụy trang lại miệng hầm.
Tháng 9/1966, con trai Mẹ là anh Lê Tự Nự hy sinh. Năm 1972, Mẹ lại khóc tiễn đưa hai con là Lê Tự Mười và Lê Tự Trịnh. Năm 1974, đến người con Lê Tự Thịnh, Ðại đội trưởng bộ đội ở Duy Xuyên ngã xuống trong một trận công đồn. Chưa hết, người con trai cả của Mẹ, Lê Tự Chuyển, chiến sĩ biệt động Sài Gòn hy sinh vào đúng 9 giờ sáng ngày 30/4/1975, ngay trên cầu Rạch Chiếc ở cửa ngõ vào Thành phố, chỉ trước vài giờ khúc khải hoàn ca chiến thắng vang dậy, non sông thu về một mối
Ba mươi năm kháng chiến trường kỳ, bao đau thương mất mát tới tấp dội đến gia đình mẹ với “chín đứa con ra đi không một đứa trở về”.
Không những thế, người con rể Ngô Tường tham gia cách mạng từ thời chống Pháp, bị bắt năm 1956. Tuy bị tra tấn dã man nhưng ông không khai báo nửa lời. Bị đánh đập đến kiệt sức, thi thể ông được chôn tại bãi cát Cẩm Hà (Hội An).
Cháu ngoại của Mẹ là Ngô Thị Cúc và Ngô Thị Điểu gia nhập lực lượng cách mạng từ rất sớm. Năm 1973, chị Ngô Thị Cúc hy sinh trong một chuyến công tác vào vùng địch hậu. Tháng 8/ 1970, chị Ngô Thị Điểu bị lính Mỹ đưa lên máy bay ra tàu thủy để tra hỏi, nhưng chưa tra hỏi được gì thì chị đã qua đời.
Hình ảnh Mẹ Thứ không chỉ dừng ở một gia đình tang thương mà được cộng đồng hóa thành biểu tượng quốc gia của lòng hy sinh. Khu tượng đài Bà mẹ Việt Nam anh hùng (thường gọi là tượng đài Mẹ Thứ) ở Tam Kỳ, Quảng Nam lấy nguyên mẫu từ khuôn mặt và câu chuyện của bà, trở thành nơi tưởng niệm, giáo dục truyền thống cho nhiều thế hệ. Các hiện vật liên quan đến bà từ nồi đồng tới bức tượng đá sa thạch được trưng bày, bảo quản như minh chứng cho một trang sử đẫm máu nhưng hiển hiện lòng nhân hậu và bản lĩnh.
Ý nghĩa của cuộc đời Mẹ Thứ vượt lên trên nỗi bi thương cá nhân: bà dạy cho chúng ta bài học về sự cao cả của tình mẫu tử kết hợp với lòng yêu nước. Trước mất mát, bà không chọn oán than mà giữ vẹn niềm tin rằng hòa bình và độc lập đáng để hy sinh; trước cộng đồng, hình ảnh bà nhắc nhở mỗi thế hệ về trách nhiệm biết ơn và gìn giữ thành quả. Khi chúng ta đến bên tượng đài, không chỉ là dâng hương cho một cá nhân mà là bày tỏ sự trân trọng với hàng triệu bà mẹ Việt Nam đã làm nên hòa bình hôm nay.
Mẹ Thứ qua đời vào ngày 10 tháng 12 năm 2010, hưởng thọ hơn một thế kỷ với cuộc đời chứa đựng biết bao câu chuyện vừa bi thương vừa anh hùng. Di sản lớn nhất bà để lại không phải là danh hiệu hay tượng đài, mà là tấm gương chịu đựng, vị tha và tình yêu Tổ quốc - những bài học sống cho con cháu và cho cả dân tộc. Nhớ về Mẹ Thứ là nhớ về giá trị của hòa bình, là lời nhắc rằng tự do hôm nay có giá rất đắt, và rằng chúng ta có bổn phận giữ gìn, trân trọng và truyền tiếp giá trị đó cho mai sau.

