MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG NGUYỄN THỊ THU
Có những vùng đất mà từng tấc đất, cành cây đều mang trong mình hơi thở của lịch sử; có những mái nhà tưởng chừng bình dị lại từng là nơi che chở cho biết bao người con của Tổ quốc. Với người dân Tăng Nhơn Phú và vùng lân cận, Bưng Sáu Xã không chỉ là một địa danh, mà còn là biểu tượng bất tử của lòng dũng cảm, sự kiên trung và tình yêu quê hương, đất nước. Nằm ở vị trí chiến lược ngay cửa ngõ Sài Gòn, Bưng Sáu Xã – gồm Tăng Nhơn Phú, Long Trường, Phước Long, Phú Hữu, Linh Xuân, Xuân Lộc cũ – vốn là vùng đầm lầy rộng lớn với dừa nước, kênh rạch chằng chịt. Giữa những cuộc càn quét, vây ráp và bom đạn khốc liệt, vùng đất ấy đã không khuất phục mà hóa thành một “căn cứ lòng dân” kiên cường. Sức mạnh của Bưng Sáu Xã chưa bao giờ chỉ nằm ở địa thế hiểm trở hay những trận đánh giữa bưng biền. Sức mạnh lớn nhất nằm trong lòng người. Dưới những mái nhà đơn sơ ở Tăng Nhơn Phú, những căn hầm bí mật được đào sâu trong lòng đất để nuôi giấu cán bộ, chở che chiến sĩ; những bữa cơm đạm bạc được sẻ đôi, những nắm gạo, củ khoai được chắt chiu để nuôi quân. Và giữa mạch ngầm của cuộc kháng chiến ấy, những người mẹ đã trở thành những “thành trì” không tiếng súng. Họ tiễn chồng, tiễn con ra trận, giấu nỗi lo vào sau ánh mắt, giấu nước mắt vào những buổi chiều chờ đợi. Có người trực tiếp tham gia công tác cách mạng, có người âm thầm chăm lo hậu phương, nhưng tất cả đều góp phần làm nên sức mạnh của một vùng đất mà kẻ thù không thể khuất phục. Chính những con người bình dị ấy đã biến Bưng Sáu Xã từ một vùng bưng biền thành một căn cứ của lòng dân, nơi tình yêu quê hương trở thành sức mạnh để vượt qua những năm tháng khốc liệt nhất.
Trong dòng chảy lịch sử ấy, cuộc đời Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thu hiện lên như một trang sử được viết bằng tuổi trẻ, niềm tin và sự hy sinh. Mẹ sinh năm 1929, quê hương và cuộc đời gắn bó với vùng Tăng Nhơn Phú; từ khi mới mười tám tuổi, mẹ đã tham gia kháng chiến. Năm 1949, mẹ được kết nạp Đảng, rồi đảm nhiệm vai trò Đoàn trưởng Phụ nữ Cứu quốc xã Tăng Nhơn Phú, sau đó tiếp tục hoạt động tích cực trong phong trào phụ nữ huyện Thủ Đức. Tuổi trẻ của mẹ vì thế không trôi qua trong những tháng ngày bình yên. Nó được gửi vào những con đường cách mạng, những nhiệm vụ giữa vùng đất còn đầy hiểm nguy và niềm tin rằng một ngày đất nước sẽ được tự do.
Nhưng chiến tranh không chỉ thử thách lòng người bằng bom đạn; đôi khi, nó đặt trước một người mẹ những mất mát đau đớn nhất. Mẹ
Nguyễn Thị Thu có năm người con. Chồng mẹ, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Minh Quang, hoạt động quân sự trong căn cứ, còn mẹ hoạt động trong vùng. Năm 1964, khi đang triển khai nghị quyết của Khu ủy, ông bị pháo địch bắn và bị thương nặng. Biết mình khó qua khỏi, ông đã đề nghị dành thuốc men cho những đồng đội còn có thể cứu chữa và gửi lời căn dặn vợ con tiếp tục sự nghiệp cách mạng còn dang dở. Đầu năm 1965, nén nỗi đau, mẹ lại đưa người con trai cả Nguyễn Văn Cẩm bước tiếp vào con đường cách mạng. Nhưng chỉ một năm sau, năm 1966, khi đang thực hiện nhiệm vụ, người con trai ấy hy sinh ở tuổi mười bảy và được Trung ương Cục phong danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”.
Có lẽ không một câu chữ nào có thể đo đếm hết nỗi đau của một người vợ mất chồng, một người mẹ mất con. Thế nhưng, điều khiến cuộc đời Mẹ Nguyễn Thị Thu trở nên lay động không chỉ nằm ở những mất mát ấy, mà ở cách mẹ lựa chọn đứng lên từ chính nỗi đau của mình. Năm 1967, mẹ bị bắt và bị tù đày. Ra tù cuối năm 1968, mẹ vẫn tiếp tục hoạt động, hoàn thành những nhiệm vụ cách mạng được giao. Nỗi đau không khiến bước chân mẹ dừng lại; trái lại, nó trở thành một phần của sức mạnh để mẹ tiếp tục đi về phía trước. Có những người chiến sĩ đã dùng tuổi trẻ để chiến đấu nơi trận tuyến; còn mẹ, bằng cả cuộc đời mình, đã chiến đấu ở cả tiền tuyến lẫn hậu phương. Nếu những căn hầm bí mật là nơi che chở cho cán bộ, thì những người mẹ như mẹ Nguyễn Thị Thu chính là những “căn hầm” của niềm tin – âm thầm, bền bỉ và không dễ gì bị khuất phục.
Sau ngày đất nước thống nhất, mẹ tiếp tục cống hiến cho quê hương khi đảm nhiệm nhiều công việc: Phó Chủ tịch UBND xã Tăng Nhơn Phú, Phó Phòng Thương nghiệp huyện Thủ Đức, rồi công tác tại Trung tâm Chất đốt thành phố và Cửa hàng may đo; mẹ còn tiếp tục tham gia công tác phụ nữ địa phương cho đến khi nghỉ hưu. Cuộc đời ấy giống như một
dòng sông dài: bắt đầu từ những năm tháng chiến tranh đầy khói lửa, chảy qua những mất mát không gì bù đắp nổi, rồi tiếp tục âm thầm bồi đắp cho quê hương trong những ngày hòa bình. Ngay cả khi tuổi đã cao, hình ảnh mẹ vẫn gắn với cuộc sống giản dị bên mảnh vườn sau nhà, trồng rau, trồng bạc hà để gia đình có thêm nguồn thực phẩm và thu nhập.
Ngày nay, khi Tăng Nhơn Phú đã khoác lên mình diện mạo của một đô thị hiện đại, những bưng biền năm xưa có thể đã đổi thay, nhưng ký ức
về một thời không thể nào bị xóa nhòa. Mẹ Nguyễn Thị Thu vẫn được các thế hệ hôm nay thăm hỏi, tri ân tại nơi mẹ sinh sống ở Tăng Nhơn Phú. Nhìn vào cuộc đời mẹ, mới hiểu rằng lịch sử không chỉ được viết bởi những trận đánh vang dội hay những chiến thắng được ghi trong sách sử. Lịch sử còn được viết trong những căn nhà nhỏ, trong những bữa cơm thiếu người, trong bước chân của một người mẹ tiễn con ra trận và trong sự im lặng của những người ở lại.Bởi thế, Bưng Sáu Xã không chỉ có những con rạch, những bưng biền hay những căn hầm từng nằm sâu dưới lòng đất. Bưng Sáu Xã còn có những “thành trì” được dựng nên từ lòng dân. Và Mẹ Nguyễn Thị Thu chính là một trong những hình ảnh đẹp nhất của thành trì ấy. Mẹ đã đi qua chiến tranh bằng tuổi trẻ, bằng niềm tin, bằng những mất mát tưởng
như không thể chịu đựng, để rồi khi hòa bình trở lại, vẫn lặng lẽ sống và cống hiến cho quê hương. Thời gian có thể làm mái tóc mẹ bạc đi, có thể khiến những chiến trường năm cũ lùi xa vào ký ức, nhưng không thể làm phai mờ dấu chân của mẹ trên mảnh đất Tăng Nhơn Phú. Nếu Bưng Sáu Xã là một trang sử được viết bằng lòng dân, thì Mẹ Nguyễn Thị Thu chính là một dòng chữ không bao giờ phai trên trang sử ấy,dòng chữ viết bằng tuổi xuân, nước mắt và một tình yêu đất nước sâu hơn mọi lời ca ngợi.



