MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG NGUYỄN THỊ THỨ - HUYỀN THOẠI BẤT TỬ
Ta có bà mẹ đã sinh ra Thánh Gióng dũng mãnh trong cuộc chiến đâu chống quân thù. Và trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa đã có những đóng góp to lớn từ sự hi sinh ân thầm và vô cùng vĩ đại của những người mẹ đã hiến dâng những người thân yêu nhất của mình cho Tổ quốc. Sinh ra là con của mẹ, của cha... Nhưng vì sự nghiệp của toàn đân tộc, các anh quyết dấn thân mình vào khói đạn. Ở mảnh đất Quảng Nam, tại huyện Điện Bàn cũng
Tên: Phan Thị Phương Thuận, lớp 10 chuyên Văn
MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG NGUYỄN THỊ THỨ - HUYỀN THOẠI BẤT TỬ
Ta có bà mẹ đã sinh ra Thánh Gióng dũng mãnh trong cuộc chiến đâu chống quân thù. Và trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa đã có những đóng góp to lớn từ sự hi sinh ân thầm và vô cùng vĩ đại của những người mẹ đã hiến dâng những người thân yêu nhất của mình cho Tổ quốc. Sinh ra là con của mẹ, của cha... Nhưng vì sự nghiệp của toàn đân tộc, các anh quyết dấn thân mình vào khói đạn. Ở mảnh đất Quảng Nam, tại huyện Điện Bàn cũng có một bà mẹ Việt Nam đã mất đi những đứa con của mình – Bà mẹ Việt Nam Anh hùng – Nguyễn Thị Thứ.
Mẹ Nguyễn Thị Thứ sinh năm 1904 tại thôn Thanh Quýt, xã Điện Thắng Trung, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Năm 18 tuổi, Mẹ lập gia đình với ông Lê Tự Trị. Năm 20 tuổi mẹ sinh con gái đầu lòng là chị Lê Thị Trị (còn gọi là Hai Trị). Thời gian trôi qua mẹ có đến 12 người con cùng một con gái và 11 con trai. Cũng như bao nhiêu phụ nữ khác, cuộc đời Mẹ thứ có những phiền muộn, lo toan để nuôi dạy con cái. Đến khi tổ quốc kêu gọi, mẹ đã mạnh mẽ động viên con, cháu lên đường chống giặc. Trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ mẹ thứ đã khóc không biết bao nhiêu lần khi con ra đi, hết người này lại đến người khác. Người con gái lớn cùng Mẹ bám trụ với xóm làng, vừa sản xuất, vừa đào hầm nuối giấu cán bộ, du kích đánh giặc giữ làng. Không có nỗi đau nào có thể đong đếm được khi 9 người con trai, 2 cháu ngoại và 1 con rể của Mẹ Thứ tiếp chân nhau ra trận rồi lần lượt hi sinh trong hai cuộc kháng chiến khốc liệt của dân tộc.
Mất mát đầu tiên, ngày 18/6/1948, người con trai thứ hai của Mẹ, chiến sĩ giao liên Lê Tự Xuyến bị giặc Pháp bắn ngay tại đầu hàng khi đang làm nhiệm vụ. Nước mắt chưa vơi thì tin dữ lại đến, ngày 5/10/1948, người con trai Lê Tự Hàn Anh hi sinh khi làm nhiệm vụ tải thương, 10 ngày sau nữa, người con trai Lê Tự Hàn Em ngã xuống trong một trận chống càn. Chỉ trong bốn tháng, mẹ mất ba người con. Con trai Lê Tự Lem vừa tròn 20 tuổi, tham gia bộ đội huyện, đã hi sinh trong lúc chiến đấu với giặc vào đầu tháng 4/1954. “Nấm mồ này cỏ chưa kịp lên xanh, mẹ lại phải đắp thêm nấm mộ khác!”. Mỗi lần nghe tin một người con hi sinh, Mẹ cắn răng khóc thầm. Đau thương không làm Mẹ gục ngã, Mẹ tiếp tục động viên những người con tiếp tục lên đường. Các anh rời nhà ra đi, nhiều đêm dài mẹ trăn trọc không ngủ được, thức trắng lo âu. Ở hậu phương, từ chống thực dân Pháp qua đánh đế quốc Mỹ, trong khu vườn của mẹ luôn có 5 căn hầm dưới bụi tre, gốc mít, nơi mẹ và con gái đầu là Lê Thị Trị nuôi giấu hàng nghìn lượt cán bộ, bộ đội, du kích. Bao đêm dài, Mẹ thao thức canh chứng nhiều cuộc họp quan trọng của cán bộ, chiến sĩ ngay dưới những căn hầm bí mật trong khu vườn nhà. Trên miệng hầm, Mẹ trồng thật nhiều cỏ, vừa để ngụy trang, vừa cho bò ăn. Lúc không có địch, hai mẹ con mở hé cửa hầm cho người ở dưới dễ thở, hễ có động lại giả vờ ra dắt bò, cắt cỏ để chỉnh sửa, ngụy trang lại miệng hầm. Cựu chiến binh Lê Tự Tân (80 tuổi) còn nhớ như in những ngày mẹ Thứ nhiệt tình gấp gạo và quỹ “nuôi quân”, những đêm họp mặt gần như nín thở của chiến sĩ, bộ đội bên dưới những căn hầm. Ông Tân hồi tưởng: “Tôi nhớ nhất là hình bóng mẹ gầy gò bên chiếc đèn dầu tù mù trông chừng từng bữa ăn, giấc ngủ cho đến họp hành của các cán bộ, chiến sĩ. Nhớ nhất là cái nồi đồng to bằng cái nia nấu cơm nuôi quân của mẹ, chén cơm nóng chuyển xuống hầm giải cơn đói cho lực lượng bộ đội mỗi khi hành quân về tá túc tại đây.” Mẹ hiền từ, nhiệt tình, thương anh em bộ đội chúng tôi những con đẻ của mình. Mỗi dịp về thăm mẹ, bà dặn dò từng li từng tí: “Sự nghiệp cách mạng còn dài, tụi bây phải cẩn thận, sơ hở là hỏng hết!” ông Lân nhớ lại. Tháng 9/1966, con trai Mẹ là anh Lê Tự Nự hi sinh. Năm 1972, mẹ lại khóc tiễn đưa hai con là Lê Tự Mười và Lê Tự Trịnh. Năm 1974, đến người con Lê tử Thịnh, Đại đội trưởng bộ đội ở Duy Xuyên ngã xuống trong một trận công đồn. Nỗi đau trong lòng mẹ dường như dâng đến tận cùng lại đúng vào ngày giải phóng đất nước 30/4/1975. Ngày ấy quê hương Quảng Nam đã được giải phóng, Mẹ thứ khấp khởi mừng vong người con trai cả là Lê Tự Chuyển đang chỉ huy biệt động Sài Gòn sẽ được bình yên trở về quê hương. Nhưng khoảng 9 giờ sáng ngày 30 - 4 - 1975, con trai cả Lê Tự Chuyển, chiến sĩ biệt động Sài Gòn đã hi sinh ngay gần cửa ngõ vào Sài Gòn, chỉ trước vài giờ khúc khải hoàn ca chiến thắng vang dậy, non sông thu về một mối. Nỗi đau chồng chất nỗi đau, song Mẹ thứ đã âm thầm chịu đựng mất mát vượt quá sức của tất cả những người bình thường. Ba mưoi năm kháng chiến trường kỳ, bao đau thương mất mát tới thấp rồi đến gia đình mẹ với “chín đứa con ra đi không một đứa trở về”. Không những thế người con rể Ngô Tường tham gia cách mạng từ thời chống Pháp, bị bắt năm 1956. Tuy bị tra tấn dã man nhưng ông không khai báo nửa lời. Bị đánh đập đến kiệt sức, thi thể ông được chôn tại bãi cát Cẩm Hà (Hội An). Cháu ngoại của mẹ là Ngô Thị Cúc và Ngô Thị Điểu gia nhập lực lượng cách mạng từ rất sớm. Năm 1973, chị Ngô Thị Cúc hi sinh trong một chuyến công tác và vùng địch hậu. Tháng 8/1970, chị Ngô Thị Điểu bị lính Mỹ đưa lên máy bay ra tàu thủy để tra hỏi, nhưng chưa tra hỏi được gì thì chị đã qua đời. Mẹ thứ chỉ còn lại người con gái đầu cũng là người con gái duy nhất may mắn còn sống sót sau mưa bom, bão đạn là bà Lê Thị Trị người dân địa phương thường gọi là bà Hai Trị. Mẹ Thứ “gánh nặng” đến 12 nỗi đau mất con, mất cháu. Nỗi đau thương quá lớn này không gì có thể bù đắp được. Ngôi nhà nhỏ của Mẹ Thứ giữa sóng rừng là một “Đài liệt sĩ”, với một dãy bàn thờ các anh, các chị, trên tường treo kín những tấm Bằng Tổ quốc ghi công. Bà hai chị lúc đó tuổi đã 80, song vẫn sớm hôm chăm sóc, đỡ đần cơm cháo, thuốc men cho Mẹ Thứ. Hai mẹ con - hai bà mẹ Việt Nam Anh Hùng lầm lũi bên nhau… Bà Hai Trị chia sẻ: “Vì mù lòa Mẹ Thứ thường nằm một chỗ. Nhưng mỗi khi có ai đến thăm, hoặc nghe có tiếng động là mẹ lận đận ngồi dậy hỏi: Đứa mô dzề rứa bây?” Mẹ Thứ đã cạn khô nước mắt khóc thương 9 người con, 2 cháu ngoại và 1 con rể ngã xuống trên chiến trường đánh Mỹ, nhưng dường như trong tâm khảm của Mẹ vẫn hằng mong các con của mình còn sống khỏe mạnh và trở về với mẹ như thuở nào. Sự mất mát, hi sinh của gia đình mẹ Thứ không có bút mực nào diễn tả hết. Nhiều cựu lãnh đạo, cán bộ vẫn còn kể câu chuyện, vào năm 1998 khi một đoàn khách nước ngoài về thăm mẹ Thứ, một nhà báo, cựu chiến binh người Hàn Quốc đã hỏi mẹ: “Thưa bà, với quan niệm người Á Đông, con cái là phúc lộc, là tài sản. Khi người con thứ tư, thứ năm tử trận, tại sao bà vẫn tiếp tục động viên những người con khác ra mặt trận?”. Mẹ Thứ điềm tĩnh trả lời: “Ở nước tôi, Cụ Hồ đã dạy là Không có gì quý hơn độc lập tự do nên cứ là người Việt Nam, trong đó có các con, các cháu tôi đều sẵn sàng chiến đấu, hi sinh để giành lấy độc lập, tự do. Nếu còn chiến tranh, các con tôi, rồi các cháu tôi vẫn sẽ tiếp tục ra trận để giành độc lập, tự do, bình yên mà hôm nay mà chúng tôi đang hưởng.” Người cựu chiến binh sững người, rưng rưng nước mắt rồi thấp người xuống, cầm tay xin lỗi mẹ…
Ngày 17/12/1994, Mẹ Nguyễn Thị Thứ đã được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Quốc hội Việt Nam trao tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Ngày 27/7/2009, tỉnh Quảng Nam đã khởi công xây dựng Tượng đài Mẹ Việt Nam anh hùng tại Núi Cấm, thuộc thôn Phú Thạnh, xã Tam Phú, TP Tam Kỳ - Quảng Nam lấy nguyên mẫu hình tượng của Mẹ Nguyễn Thị Thứ. Từ thàng 12/2011, tại thị trấn Vĩnh Điện, huyện Điện Bàn có con đường mang tên Mẹ Thứ.
Trưa 10/12/2010, sau cơn bạo bệnh, Mẹ Thứ đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi đại thọ 106. Dẫu biết đời người không ai vượt qua khỏi quy luật “sinh – tử”, song Mẹ Thứ qua đời vẫn làm đau đớn khôn nguôi hàng triệu trái tim cán bộ và nhân dân cả nước. Bởi trong tâm khảm của mình, ai cũng ước mong sao cho người mẹ đã có quá nhiều hi sinh, mất mát này, được sống lâu hơn nữa trong không khí hòa bình để thế hệ hôm nay còn cơ hội trả nghĩa, tri ân...
Bà mẹ Việt Nam Anh hùng - Nguyễn Thị Thứ là biểu tượng của lòng yêu nước, sự hi sinh to lớn trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Mẹ vĩ đại không chỉ vì Mẹ chịu đựng nỗi đau thầm lặng khi những người con thân yêu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc mà còn là sự dâng hiến cao cả cho lý tưởng cách mạng của toàn dân tộc.



