MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG NGUYỄN THỊ THỨ – NGƯỜI MẸ CỦA NHỮNG ANH HÙNG
Có những người mẹ cả cuộc đời chỉ mong con mình được bình an trở về. Nhưng trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, có một người mẹ đã lần lượt tiễn chồng, chín người con trai, con rể và hai cháu ngoại lên đường làm nhiệm vụ, để rồi không một ai trở về. Đó là Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ – người mẹ đã dành cả cuộc đời mình cho quê hương, đất nước.
Mẹ Nguyễn Thị Thứ sinh năm 1904 tại thôn Thanh Quýt, xã Điện Thắng Trung, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc thành phố Đà Nẵng). Mẹ lớn lên trong một gia đình lao động bình dị, cuộc sống quanh năm gắn liền với ruộng đồng và những khó khăn của người dân quê. Mẹ kết hôn với ông Lê Tự Trị và có 12 người con, gồm 11 con trai và một con gái. Những tưởng cuộc đời mẹ sẽ trôi qua bình yên bên gia đình, nhưng chiến tranh đã khiến mái nhà nhỏ ấy phải gánh chịu những mất mát vô cùng lớn lao.
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, các con của mẹ lần lượt tham gia hoạt động cách mạng, chiến đấu và phục vụ kháng chiến. Mẹ đã phải nén nỗi đau riêng để tiễn những người con thân yêu lên đường bảo vệ Tổ quốc. Nỗi đau đầu tiên ập đến vào ngày 18 tháng 6 năm 1948, khi người con trai Lê Tự Xuyến, một chiến sĩ giao liên, hy sinh trong lúc làm nhiệm vụ. Chưa kịp nguôi ngoai nỗi đau mất con, ngày 5 tháng 10 năm 1948, mẹ tiếp tục nhận tin người con Lê Tự Hàn Anh hy sinh khi làm nhiệm vụ tải thương. Chỉ mười ngày sau, người con Lê Tự Hàn Em cũng hy sinh trong một trận chống càn. Trong vòng chưa đầy bốn tháng, mẹ đã mất ba người con trai.
Những năm tháng tiếp theo, chiến tranh vẫn không ngừng cướp đi những người thân yêu của mẹ. Năm 1954, người con Lê Tự Lem hy sinh khi mới tròn 20 tuổi. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, mẹ tiếp tục nhận thêm những tin dữ về sự hy sinh của các con. Đặc biệt, vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, người con trai cả Lê Tự Chuyển, một chiến sĩ biệt động Sài Gòn, đã hy sinh trong lúc làm nhiệm vụ dẫn đường cho đoàn quân giải phóng tại khu vực cầu Rạch Chiếc, chỉ vài giờ trước khi miền Nam hoàn toàn giải phóng. Ngày đất nước thống nhất cũng là ngày mẹ phải chịu thêm một mất mát không gì bù đắp được.
Không chỉ chín người con trai, mẹ còn mất một người con rể và hai người cháu ngoại trong chiến tranh. Tổng cộng, gia đình mẹ có 12 người thân hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Đằng sau những tấm giấy báo tử là nỗi đau của một người mẹ phải tiễn biệt hết người thân này đến người thân khác. Thế nhưng, mẹ vẫn kiên cường bám trụ quê hương, không rời bỏ mảnh đất đã gắn bó với gia đình qua bao thế hệ.
Điều đáng trân trọng là sự đóng góp của mẹ không chỉ nằm ở việc động viên các con tham gia cách mạng. Ngay tại quê nhà, mẹ cùng con gái đầu là bà Lê Thị Trị tích cực giúp đỡ cán bộ, chiến sĩ. Trong khu vườn của gia đình có năm căn hầm bí mật được ngụy trang dưới những bụi tre và gốc cây để nuôi giấu cán bộ cách mạng. Mẹ còn chăm sóc, che chở cho những người hoạt động kháng chiến như chính những người con trong gia đình mình. Dù sống giữa vùng chiến sự nguy hiểm, mẹ vẫn kiên trì bám đất, giữ làng và góp sức cho cách mạng.
Năm 1994, Mẹ Nguyễn Thị Thứ được Nhà nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng nhằm ghi nhận những hy sinh to lớn của mẹ và gia đình. Hình ảnh mẹ đã trở thành nguyên mẫu cho công trình Tượng đài Mẹ Việt Nam anh hùng tại núi Cấm, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc thành phố Đà Nẵng). Công trình được xây dựng để tưởng nhớ và tri ân những người mẹ Việt Nam đã hiến dâng những người thân yêu nhất cho độc lập, tự do của dân tộc.
Ngày 10 tháng 12 năm 2010, mẹ Nguyễn Thị Thứ qua đời tại quê nhà, hưởng thọ 106 tuổi. Dù mẹ đã đi xa, câu chuyện về cuộc đời và sự hy sinh của mẹ vẫn được nhiều thế hệ nhắc nhớ.
Cuộc đời Mẹ Nguyễn Thị Thứ là một câu chuyện lịch sử đầy xúc động về tình mẫu tử, lòng yêu nước và tinh thần bất khuất của người phụ nữ Việt Nam. Mẹ không trực tiếp cầm súng nơi chiến trường, nhưng đã góp phần làm nên lịch sử bằng sự kiên cường, lòng son sắt và những hy sinh vô cùng lớn lao. Qua câu chuyện của mẹ, thế hệ trẻ hôm nay càng hiểu rằng nền độc lập, hòa bình mà chúng ta đang được hưởng đã phải đánh đổi bằng biết bao mất mát của các thế hệ đi trước. Vì vậy, mỗi người cần biết trân trọng lịch sử, biết ơn những người đã hy sinh và sống có trách nhiệm hơn với quê hương, đất nước.



