Mẹ Việt Nam Anh Hùng Nguyễn Thị Tiễn
Mẹ Nguyễn Thị Tiễn (sinh năm 1920 - mất năm 2003), quê tại ấp Tân An, xã Tân Bình, là một biểu tượng sáng ngời cho lòng yêu nước và sự hy sinh thầm lặng của người phụ nữ Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại. Mẹ Tiễn về nhà chồng là ông Trương Văn Đô và sinh sống tại ấp Thanh Bắc, xã Tân Thanh Tây. Gia đình có truyền thống cách mạng lâu đời. Ngay từ năm 1945, ông Đô (bí danh Sơn Hà) đã tham gia kháng chiến và được kết nạp Đảng năm 1947. Sau đó, ông hoạt động trong lực lượng công an viên, r
MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG NGUYỄN THỊ TIỄN
Trong lịch sử đấu tranh cách mạng hào hùng của dân tộc Việt Nam, hình ảnh người mẹ luôn gắn liền với sự hy sinh thầm lặng nhưng vô cùng cao cả. Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Tiễn (1920 – 2003), quê tại ấp Tân An, xã Tân Bình, là một biểu tượng sáng ngời của lòng yêu nước, đức kiên trung và sự cống hiến trọn đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc qua hai cuộc kháng chiến vĩ đại.
Mẹ Nguyễn Thị Tiễn về làm dâu nhà ông Trương Văn Đô và sinh sống tại ấp Thanh Bắc, xã Tân Thanh Tây – một vùng quê giàu truyền thống cách mạng. Chồng Mẹ, ông Trương Văn Đô (bí danh Sơn Hà), sớm tham gia kháng chiến từ năm 1945, được kết nạp vào Đảng năm 1947. Trong suốt quá trình hoạt động, ông lần lượt đảm nhiệm nhiều trọng trách quan trọng như công an viên, Cán sự Nông hội, Chỉ ủy viên, Bí thư Chi bộ xã Tân Thanh Tây, luôn tận tụy vì sự nghiệp cách mạng tại địa phương. Khi ông Đô tập kết ra Bắc (sau đó được điều chuyển tiếp tục hoạt động tại địa phương), gánh nặng gia đình và cách mạng dồn cả lên đôi vai người mẹ.
Một mình Mẹ Nguyễn Thị Tiễn vừa tần tảo nuôi dạy sáu người con thơ (ba trai, ba gái), vừa âm thầm, bền bỉ tham gia các hoạt động cách mạng trong điều kiện vô cùng nguy hiểm. Trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, Mẹ là chỗ dựa vững chắc cho phong trào cách mạng: nuôi giấu hàng chục cán bộ, che chở lực lượng kháng chiến, cất giấu vũ khí, làm giao liên cho bộ đội. Không chỉ hậu phương vững vàng, Mẹ còn là một trong những phụ nữ tiên phong đấu tranh trực diện với kẻ thù, thể hiện bản lĩnh kiên cường và lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc. Truyền thống yêu nước ấy đã được hun đúc và tiếp nối mạnh mẽ trong các con của Mẹ. S
áu người con lần lượt trưởng thành trong bom đạn và lý tưởng cách mạng. Hai người con trai lớn là anh Trương Văn Hóa (sinh năm 1942) và anh Trương Văn Chiến (sinh năm 1944) sớm lên đường tham gia cách mạng vào các năm 1958 và 1959. Anh Hóa công tác trong lực lượng công an xã, giữ chức Phó Ban An ninh; anh Chiến nhập ngũ, chiến đấu tại Trung đoàn 762, Sư đoàn 9, Quân đoàn 4. Những năm cuối thập niên 1960, nỗi đau bắt đầu giáng xuống gia đình Mẹ. Tháng 2 năm 1969, Mẹ nhận tin anh Trương Văn Chiến – khi ấy là Chuẩn úy, Trung đội trưởng, một đảng viên Cộng sản kiên trung – đã anh dũng hy sinh trong trận đánh tại Trà Cao, Tây Ninh. Kỷ vật duy nhất Mẹ giữ lại chỉ là tờ giấy báo tử thấm đẫm máu và nước mắt. Chưa kịp nguôi ngoai nỗi đau mất con, đầu tháng 3 năm 1971, Mẹ lại gánh chịu thêm một mất mát không gì bù đắp được: anh Trương Văn Hóa hy sinh khi đang hoạt động bí mật. Bị địch chỉ điểm, rơi vào vòng vây, anh đã dũng cảm chiến đấu, ném hai trái lựu đạn tiêu diệt nhiều tên địch. Trái lựu đạn cuối cùng không nổ, anh bị bắt sống. Dù phải chịu những đòn tra tấn dã man, anh vẫn kiên quyết không khai báo bất cứ thông tin nào. Cuối cùng, kẻ thù đã sát hại anh bằng cách man rợ ngay trên chính quê hương mình. Sự hy sinh của anh là minh chứng hùng hồn cho khí tiết bất khuất của người chiến sĩ cách mạng. Nỗi đau vẫn chưa dừng lại. Tháng 5 năm 1974, người con trai cuối cùng của Mẹ là anh Trương Văn Tám, khi đang công tác tại công an xã Tân Thạnh Tây, cũng anh dũng hy sinh trong lúc làm nhiệm vụ.
Ba người con trai lần lượt ngã xuống, hiến trọn tuổi xuân cho Tổ quốc, để lại trong lòng người mẹ những vết thương không bao giờ lành. Ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, hòa bình lập lại, nước mắt Mẹ Nguyễn Thị Tiễn lại tuôn rơi. Sáu người con của Mẹ, không ai trở về trọn vẹn. Sự hy sinh quá lớn lao ấy là nỗi đau riêng của Mẹ, nhưng cũng là niềm tự hào chung của quê hương, của dân tộc Việt Nam.
Với những cống hiến to lớn và sự hy sinh không gì bù đắp được của Mẹ và gia đình, tháng 12 năm 1994, Đảng và Nhà nước đã trân trọng phong tặng Mẹ danh hiệu cao quý “Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng”. Dù vinh dự ấy làm Mẹ vô cùng xúc động, nhưng trong những năm tháng cuối đời, ước nguyện giản dị mà thiêng liêng của Mẹ chỉ là được một lần ra thăm Lăng Bác Hồ – vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc. Tiếc thay, tâm nguyện ấy Mẹ chưa kịp thực hiện trước khi từ giã cõi đời vào năm 2003.
Cuộc đời và sự hy sinh của Mẹ Nguyễn Thị Tiễn cùng gia đình đã mãi mãi ghi danh vào trang sử vàng của dân tộc. Mẹ là hiện thân cao đẹp của lòng trung thành son sắt với Đảng, với Tổ quốc, là tấm gương sáng ngời về đức hy sinh, ý chí kiên cường và tình yêu nước nồng nàn để các thế hệ hôm nay và mai sau mãi mãi noi theo.



