Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Tứ
Bà Nguyễn Thị Thứ sinh vào những năm đầu thế kỷ XX, trong khu xóm Rừng của làng Thanh Quýt, xã Điện Thắng Trung, thuộc vùng Điện Bàn, Quảng Nam – mảnh đất nắng lửa, nơi sản sinh nhiều người mẹ kiên trung trong kháng chiến. Giấy tờ ghi lại năm sinh của bà có đôi chút khác nhau: tấm căn cước thời Việt Nam Cộng hòa ghi năm 1902, còn giấy chứng minh nhân dân về sau ghi 1904, nhưng mọi người trong vùng đều nhớ bà sinh vào buổi giao thời khi nước mất, nhà tan và lòng dân rực cháy khát vọng tìm đường c

NGƯỜI MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG NGUYỄN THỊ THỨ
Bà Nguyễn Thị Thứ sinh vào những năm đầu thế kỷ XX, trong khu xóm Rừng của làng Thanh Quýt, xã Điện Thắng Trung, thuộc vùng Điện Bàn, Quảng Nam – mảnh đất nắng lửa, nơi sản sinh nhiều người mẹ kiên trung trong kháng chiến. Giấy tờ ghi lại năm sinh của bà có đôi chút khác nhau: tấm căn cước thời Việt Nam Cộng hòa ghi năm 1902, còn giấy chứng minh nhân dân về sau ghi 1904, nhưng mọi người trong vùng đều nhớ bà sinh vào buổi giao thời khi nước mất, nhà tan và lòng dân rực cháy khát vọng tìm đường cứu nước.
Từ tuổi thanh xuân, bà đã sống trong không khí sục sôi của phong trào Duy Tân, rồi đến thời khởi nghĩa chống Pháp lan rộng khắp Quảng Nam. Bà lập gia đình và sinh được chín người con trai cùng một con gái lớn là bà Lê Thị Trị. Quãng đời làm vợ, làm mẹ của bà gắn liền với những cuộc hành quân, những trận càn, những đợt truy lùng của quân đối phương. Gia đình bà như phần lớn gia đình Điện Bàn lúc ấy sống trong cảnh “trên bờ vực chiến tranh”, nhưng chưa bao giờ bà rời bỏ niềm tin vào con đường giải phóng dân tộc.
Từ năm 1948, ngôi nhà nhỏ của bà ở xóm Rừng trở thành nơi lui tới của cán bộ kháng chiến chống Pháp. Chính trong khu vườn trồng đầy tre, cau và những bụi cỏ um tùm, bà và con gái lớn âm thầm đào năm hầm bí mật. Bà thả hàng chục con bò trong vườn để che mắt quân địch; cứ mỗi khi có động, bà giả vờ đi “coi bò”, nhưng thật ra là chỉnh sửa miệng hầm, kiểm tra hơi thở và sự an toàn cho những chiến sĩ đang ẩn nấp bên dưới. Khi yên tĩnh, bà hé miệng hầm để họ có không khí. Những hành động thầm lặng ấy kéo dài suốt gần 30 năm, từ chiến tranh chống Pháp đến trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Cũng từ năm 1948, nỗi đau bắt đầu gõ cửa gia đình bà. Chiến sự khốc liệt khiến từng người con trai lần lượt ra trận. Từng giấy báo tử một được gửi về căn nhà nhỏ. Bà nhận tờ giấy báo tử đầu tiên trong nỗi lặng im đến nghẹt thở, nhưng rồi từ tờ thứ hai, thứ ba… cho đến tờ thứ chín, bà vẫn ngồi thẳng, không gục ngã. Người trong xóm vẫn nhớ như in câu nói của bà:
“Chúng nó chết vì nước. Mình là mẹ thì phải mạnh hơn tụi nó.”
Nhưng nỗi đau ấy vẫn chưa dừng lại. Con rể của bà cũng ngã xuống. Rồi hai cháu ngoại hai đứa trẻ mang họ cha, lớn lên với lòng yêu nước của cả dòng họ cũng lần lượt hy sinh. Tính cả con, rể và cháu, 12 người thân của bà đã nằm xuống trong hai cuộc kháng chiến kéo dài suốt ba thập kỷ. Ít ai có thể tưởng tượng được sức chịu đựng phi thường của người mẹ ấy.
Những năm 1960–1970, Điện Bàn – Điện Thắng Trung trở thành vùng oanh kích tự do, giặc càn liên tục, bom phá nhà cửa. Nhưng giữa ngọn lửa chiến tranh, bà Nguyễn Thị Thứ vẫn giữ ngọn lửa niềm tin. Bà vẫn nấu từng nồi cơm cho bộ đội, vẫn giấu thương binh trong những căn hầm tối ẩm, vẫn nghe ngóng tin tức từ dân làng để báo lại cho lực lượng Quân Giải phóng. Có lúc địch ập vào lục soát nhà, bà bình thản đứng dựa vào tường, để chúng tưởng bà chỉ là một bà lão nông dân hiền lành, trong khi bên dưới chân bà, cách chưa đến một thước đất, các cán bộ đang nín thở chờ qua nguy hiểm.
Trong những năm cuối của cuộc chiến chống Mỹ, nhiều cán bộ ở lại hầm của bà suốt hàng tuần. Những chiếc nồi đồng bà nấu cơm cho chồng, con và bộ đội năm xưa đến nay vẫn được gìn giữ và trở thành hiện vật trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Đó là kỷ vật đầy mùi khói bếp, thấm mồ hôi và nước mắt của một người mẹ đã dâng cả gia đình cho Tổ quốc.
Sau ngày giải phóng 30 tháng 4 năm 1975, bà sống những năm tháng cuối đời trong sự kính trọng của dân làng và cán bộ từng được bà che chở. Đến 17 tháng 12 năm 1994, bà được Chủ tịch nước và Quốc hội Việt Nam trao tặng danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, danh hiệu cao quý nhất dành cho những người mẹ đã dâng hiến máu thịt cho đất nước. Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh khi đến thăm bà đã nắm tay bà và nói:
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
“Mẹ đã tiếp thêm nghị lực cho chúng con. Mẹ là Mẹ Việt Nam.”
Rồi đến năm 2009, khi tỉnh Quảng Nam khởi công xây dựng Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng trên đỉnh núi Cấm công trình lớn nhất cả nước về hình tượng Mẹ Việt Nam bà chính là nguyên mẫu được chọn. Bức tượng đá sa thạch của bà cũng được trưng bày ngoài trời tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, trở thành biểu tượng bất tử của sự hy sinh.
Cuộc đời bà đi đến hồi kết vào lúc 1 giờ 40 phút ngày 10 tháng 12 năm 2010, tại Đà Nẵng. Bà hưởng thọ 106 tuổi. Ngày bà mất, cả xóm Rừng như lặng lại. Người ta nói rằng bà ra đi thanh thản, như vừa hoàn thành sứ mệnh cuối cùng của một cuộc đời chưa từng biết đến hai chữ “lùi bước”.
Những gì bà để lại không chỉ là nỗi đau của một gia đình có nhiều liệt sĩ nhất trong hai cuộc kháng chiến, mà còn là hình tượng bất diệt về người mẹ Việt Nam: kiên cường, nhẫn nại, đại nghĩa và bất khuất. Cuộc đời bà Nguyễn Thị Thứ từ xóm Rừng nhỏ bé ở Quảng Nam đã trở thành một phần lịch sử của cả dân tộc, mãi mãi được khắc ghi trong lòng các thế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau.
-sưu tầm-



