Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Tư
Những năm chiến tranh ác liệt cho đến bây giờ ở ấp Tân Hậu, xã Tân Trung (Mỏ Cày) ai cũng biết đến một bà mẹ anh hùng đã dành cả cuộc đời mình cho Tổ quốc. Mẹ khóc chồng và năm lần các con của mẹ ra đi rồi không trở lại. Đó là mẹ Nguyễn Thị Tư - một trong những Bà mẹ Việt Nam Anh hùng của tỉnh có nhiều người thân nhất đã hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà.
Những năm chiến tranh ác liệt cho đến bây giờ ở ấp Tân Hậu, xã Tân Trung (Mỏ Cày) ai cũng biết đến một bà mẹ anh hùng đã dành cả cuộc đời mình cho Tổ quốc. Mẹ khóc chồng và năm lần các con của mẹ ra đi rồi không trở lại. Đó là mẹ Nguyễn Thị Tư - một trong những Bà mẹ Việt Nam Anh hùng của tỉnh có nhiều người thân nhất đã hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà. Năm nay mẹ đã sang tuổi 84, đang được sự chăm sóc của người con trai duy nhất còn lại. Tuy sức khỏe yếu nhiều, nhưng kỷ niệm xưa vẫn còn in sâu trong tâm trí của mẹ. Mẹ kể lại rằng: Thời kỳ Quốc gia tự vệ cuộc năm 1946, mẹ cho mượn nhà ở làm cơ quan quân sự. Lúc đó chánh quyền cách mạng chưa được xây dựng đầy đủ, ban quân lương chưa được hình thành. Mẹ phải lấy lúa gạo nhà nuôi một tiểu đội du kích. Đến tháng 12 năm 1947 bọn Tây ở đồn chợ Cái Quao, xã An Định được Việt gian dẫn đến bao vây nhà mẹ, bắt mẹ chồng của mẹ, đập phá toàn bộ đồ đạc trong nhà. Qua trận đó, bọn giặc chú ý hơn, những lần đi ngang đều ghé hạch sách điều này điều nọ. Không bao lâu, mẹ lại nhận hai thương binh của Tiểu đoàn 310 về nuôi dưỡng trong nhà. Những tháng cuối của năm 1948 và cả năm 1949, giặc Pháp xây dựng đồn bốt dày đặc khắp nơi. Chánh quyền cách mạng các cấp ngày càng gặp nhiều khó khăn và không còn chỗ đứng chân. Chồng mẹ - ông Phạm Hồng Sa, lúc ấy là Huyện ủy viên, Trưởng ban công tác 2 của huyện Mỏ Cày được bố trí ở lại hoạt động bí mật. Đến tháng 3 năm 1951 bọn tình báo đã biết được, giặc Pháp huy động một đại đội ở PC Tân Hương lên bố ráp. 3 giờ chiều ngày 2-3-1951 chúng bắt được ông Phạm Hồng Sa và ông Trần Văn Sêm đem về chợ Tân Hương tra tấn dã man. Không khai thác được gì, đến 8 giờ đêm ngày 3-3-1951, chúng bắn cả hai người rồi đem chôn chung một hầm, không cho gia đình lấy xác. Mất mát đầu tiên đã đến với mẹ năm 37 tuổi. Một mình nuôi sáu đứa con, nhưng mẹ vẫn tin ở cách mạng. Mong các con chóng lớn để tiếp nối con đường của cha đã đi. Ngày đình chiến (21-7-1954), con lớn của mẹ là Phạm Hồng Rô và con thứ tư là Phạm Hồng On tập kết ra Bắc, bốn đứa ở lại miền Nam. Hai lần mẹ tham gia đấu tranh chính trị kiến nghị với chánh quyền Sài Gòn đòi hiệp thương tổng tuyển cử - thống nhất đất nước. Bến Tre Đồng khởi, mẹ vui mừng không kể xiết, bốn con của mẹ còn ở lại sát cánh cùng với các đồng đội ở tỉnh nhà từng giờ từng phút làm cho bọn giặc khiếp sợ mất ăn mất ngủ. Nhưng không bao lâu, tháng 4 năm 1963 thì anh Phạm Hồng Bon - xã đội phó xã Tân Trung hy sinh. Sau Mậu Thân 1968, chiến trường Bến Tre bước vào thời kỳ gay go quyết liệt. Nhà cửa bao lần cháy đi làm lại, vườn tược trở thành miếng đất trống. Năm 1969, mẹ cho người con út Phạm Hồng Châu thoát ly, thì ngày 22-2-1970 thư báo tử cho mẹ biết Hồng Châu đã hy sinh ở chiến trường Giồng Trôm. Năm 1971, người con thứ sáu của mẹ anh Phạm Hồng A - Trưởng trạm dân y Mỏ Cày Nam ngã xuống. Ngày 12-2-1972 anh Phạm Hồng Rô người con trai lớn của mẹ - Đại úy, trưởng ban tác chiến đơn vị đặc công Sư đoàn 5 đã hy sinh khi đang trên đường Trường Sơn về Nam tham gia vào chiến dịch mùa hè đỏ lửa năm 1972. Còn anh Phạm Hồng On cũng đi tập kết với anh Rô tham gia chiến đấu ở đơn vị pháo binh và đã hy sinh ngày 26-3-1973 tại chiến trường Quảng Trị. Liên tục trong bốn năm, mẹ nhận được tin bốn người con của mẹ đã hy sinh vì Tổ quốc. Không còn nỗi đau nào bằng một lần tiễn con đi rồi không bao giờ gặp lại. Mẹ kể: "Trong những lúc đen tối nhất này, bọn giặc lại bắt giam tôi ở Bến Tre, buộc tôi phải gọi người con thứ tư ra chiêu hồi, trở về với quốc gia. Khi được thả về tôi vội vàng chạy vô vùng địa bàn khuyên con tôi phải cố gắng vượt qua mọi khó khăn, nếu có rủi ro mất mát vẫn phải theo con đường đã định!". Chiến tranh đã qua đi, đất nước đã hòa bình thống nhất. Ngồi nghe mẹ kể lại những gì đã qua tôi càng thấy bùi ngùi xúc động trước sự hy sinh gian khổ mà mẹ đã chịu đựng. Mẹ là nguồn cổ vũ, động viên dõi bước ta đi, chúng ta hãy xứng đáng với niềm tin của mẹ.



