MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG TRẦN THỊ ANH
Con đường trải đá đỏ cặp theo rạch Cái Ớt thuộc địa phận ấp Sơn Lân, xã Sơn Định dẫn tôi đến thăm căn nhà tình nghĩa của mẹ Trần Thị Anh, một trong những Bà Mẹ ở xã Sơn Định, huyện Chợ Lách đã được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu cao quý “Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng” trong đợt đầu tiên vào ngày 17/12/1994.
Ngôi nhà nhỏ, xinh xắn của Mẹ bày trí rất sơ sài. Bởi Mẹ có gì đâu ngoài cái gia tài thiêng liêng, quý báu nhất của đời mình, đó là chồng và ba núm ruột thân yêu mà Mẹ đã hy sinh cho đất nước. Đến năm 2000, Mẹ đã ở tuổi tám mươi hai, tại lãng, mắt mờ và những dấu ấn của thời gian đã hằn
sâu trên khuôn mặt. Nhưng nhìn Mẹ, người ta vẫn còn nhận ra cái dáng dấp của một người phụ nữ đậm chắc, khoẻ mạnh trước kia: một người vợ, người mẹ đã từng đảm đang, quán xuyến, gồng gánh mọi việc gia đình để chồng, con yên tâm tham gia cách mạng.
Mẹ kể cho tôi nghe về những mất mát, hy sinh trong cuộc đời của Mẹ. Sức khỏe đã về chiều, nay ốm mai đau, dĩ vãng hiện về trong Mẹ như những thước phim chấp nối, nhạt nhòa...Chồng Mẹ, ông Nguyễn Văn Bèo tham gia phong trào Việt Minh thời chống Pháp. Lần đó Ông bị địch ruồng bắt, chính Bầu Nghĩa, tên ác ôn khét tiếng thời bấy giờ đã chặt đầu Ông và hai đồng chí của Ông. Sau đó, chúng vứt xác ba người xuống một mé sông để nhử người mình ra lấy xác. Đêm hôm đó, chờ trăng lên nhập nhoạng, Mẹ gởi ba đứa con nhỏ cho gia đình một người lối xóm, rồi cùng người chú bà con chèo xuồng lần ra mé bãi tìm vớt xác chồng. Bụng mang dạ chữa, một mình Mẹ lặn hụp dưới làn nước đen ngòm, rùng rợn giữa đêm khuya, lần lượt Mẹ vớt được ba xác người không đầu; sau đó là ba cái đầu lẫn trong bùn đất... "Thương quả, thành ra mẹ không biết sợ là gì !”. Mẹ trả lời, khi tôi buột miệng hỏi về điều gì đã khiến Mẹ trở nên gan góc phi thường trong đêm đó.
Còn lại một mình, một nách bốn con, Mẹ lặn lội tảo tần cấy mướn, gặt thuê nuôi con tới ngày khôn lớn. Đồng dạ, đồng lòng quyết trả thù cha, đền nợ nước, ba người con trai lớn của Mẹ đã lần lượt tham gia bộ đội. Các anh ra đi không hẹn ngày về và đã thật sự không trở về với Mẹ. Mẹ kể, hồi trước, có đau khổ nào bằng nghe tin con hy sinh, đến khóc mà cũng không dám khóc! Mỗi lần nhận tin báo tử của các anh, Mẹ phải lặng lẽ nuốt vào lòng những nỗi đau, những dòng nước mắt giữa nanh vuốt quân thù bốn bề vây bủa. Mẹ còn nhớ, chỉ có một lần Mẹ được khóc mặc tình, khóc cho thỏa bao nỗi nhớ niềm thương. Đó là lần Mẹ hay tin anh Nguyễn Văn Bé, người con thứ ba của Mẹ hy sinh. Mẹ nhờ người anh em móc nối để tìm đến đơn vị của anh Bé ở xã An Định – Mỏ Cày. Khi nghe đơn vị kể lại sự hy sinh anh dũng của anh Bé, anh đã dùng sinh mạng mình để giải vây cho cả trung đội thoát khỏi vòng vây của địch, Mẹ đã ngã vào vòng tay những người đồng đội của con mình mà khóc như chưa bao giờ được khóc...những giọt nước mắt nhớ thương pha lẫn niềm tự hào giờ đây lại lấp lánh rơi trên đôi má nhăn nheo của người Mẹ anh hùng.
Tuổi cao, sức yếu, trí nhớ đã lẫn lộn bao điều khi nhớ, khi quên. Giờ thì Mẹ không sao nhớ nổi nơi và ngày tháng các con mình đã hy sinh. Những tấm bằng Tổ quốc ghi công treo một hàng ngay ngắn, trang trọng trên vách đã nói hộ Mẹ về những điều đó. Anh Nguyễn Văn Thọ, Tiểu đoàn phó bộ đội đặc công, hy sinh ngày 27/7/1967. Anh Nguyễn Văn Bé, trung đội trưởng Trung đội 48, Sư đoàn 6, hy sinh ngày 30/12/1968. Thượng sĩ Nguyễn Văn Lượm, hy sinh ngày 10/12/1969. Mẹ nói: “Thằng Thọ, thằng Lượm chưa lập gia đình. Còn thằng Bé có vợ và một con trai. Ngày hay tin nó hy sinh, vợ nó còn đang ở cữ”.
Trong căn nhà tình nghĩa ấm áp, Mẹ sống những ngày cuối đời bên người cháu cố, giữa sự yêu thương, đùm bọc của bà con, làng xóm. Mẹ không phải bận tâm nhiều về cuộc sống hiện tại. Nhưng chỉ có một nỗi niềm Mẹ luôn canh cánh, đó là việc anh Thọ hy sinh, đến nay chưa tìm được phần mộ.
Đó cũng chính là vết thương chưa lành lặn trong biết bao bà Mẹ vẫn hằng mong con mình về báo mộng lành.



