MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG TRẦN THỊ MUỘN
Mẹ Trần Thị Muộn sinh năm 1918 trong một gia đình bần nông ở xã Mỹ Hưng, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Năm 1935, mẹ lập gia đình với ông Nguyễn Văn Tư sinh năm 1916, rồi theo chồng về ở xã Quới Điền. Hai vợ chồng cùng nhau đi làm thuê, làm mướn cho địa chủ để sinh sống và sinh được 9 người con gồm 5 trai, 4 gái.
Sau đình chiến năm 1954, hai vợ chồng mẹ đến khai hoang lập nghiệp trên vùng đất cù lao Quốc tế (xã Mỹ An ngày nay). Nhà nghèo, con đông nên hai vợ chồng mẹ phải lam lũ suốt ngày để mưu sinh nuôi dạy con cái. Thế rồi chiến tranh xảy ra, chồng mẹ phải vừa lao động vừa tham gia đưa rước bộ đội qua sông, làm thông tin liên lạc, tiếp tế lương thực cho cách mạng, các con của mẹ cũng dần khôn lớn trưởng thành. Đứng trước cảnh quê hương bị bom đạn giặc Mỹ tàn phá gây ra bao chết chóc tang thương, các con của mẹ đã phải đứng lên cầm súng chiến đấu chống kẻ thù xâm lược. Dẫu biết rằng tham gia cách mạng là chấp nhận sự gian khổ và hy sinh, nhưng mẹ khuyên bảo các con “thà hy sinh để giành lại độc lập tự do chớ không chịu sống qui, sống nhục”. Thế là người con trai đầu lòng Nguyễn Văn Che, rồi đến người con trai thứ năm Nguyễn Văn Đấu và người con trai Nguyễn Văn Út đã lần lượt lên đường. Khi những đứa con lớn đi rồi, hàng ngày mẹ vẫn phải cùng với chồng làm thuê cuốc mướn để tiếp tục nuôi dưỡng những đứa còn nhỏ dại.
Nào ngờ chiến tranh diễn ra ngày càng ác liệt hơn, gieo bao đau thương tang tóc cho xóm làng, trong đó có cả gia đình của mẹ. Năm 1963, chồng mẹ bị địch nghi ngờ có quan hệ với Việt cộng và bắt đem về quận giam cầm, nhưng do không đủ cơ sở để kết tội nên chỉ một thời gian sau thì được chúng thả ra. Năm 1965, đứa con gái thứ sáu lại bị địch bắt quả tang vì tội làm giao liên cho Việt cộng và đem cầm tù ở Khám lá Bến Tre, mãi 6 tháng sau chúng mới thả ra. Từ đó, chị đã thoát ly gia đình và chuyển công tác về Miền không rõ tin tức. Năm 1966, đứa con trai đầu lòng đã hy sinh trong một trận càn của giặc tại địa phương. Nhìn mặt con mà lòng mẹ quặng đau như ai cào ai xé, rồi ngẹn ngào thốt lên từng tiếng: "Thế là nó đã chết, chiến tranh ma làm sao tránh khỏi". Cố nén đau thương, mẹ cùng với đồng bào trong xóm dùng ghe đem xác con lên tân Kiến Hòa để đấu tranh đòi công lý Chẳng những không đáp ứng yêu cầu mà bọn địch ở tỉnh còn bắt mẹ giam cầm tại Khám lá gần một tháng trời mới chịu thả ra. Tiếp đó cũng trong năm 1966, đíra con trai thứ năm Nguyễn Văn Đấu là Đội trưởng Đội biệt động thị trấn Thạnh Phú cũng hy sinh trong một chuyến đi công tác khi tuổi đời vừa tròn 20. Nỗi đau này chưa nguôi thì nỗi đau khác lại ập đến, đứa con trai nhỏ vừa được 12 tuổi lại bị pháo địch đập trúng tử vong trong một lần ra ruộng. Chỉ trong một năm mà mẹ đã mất đi đến 3 người con yêu quí, những ngày tháng ấy lòng mẹ héo hơn, tâm hồn tan nát, thân thể hao gầy tưởng chừng như không thể vượt qua. Bởi những núm ruột thân yêu gần gũi đã lần lượt xa rời mẹ vĩnh viễn, còn những đứa đi xa cũng bặt vô âm tín không biết sống chết ra sao? Trong 9 đứa con thì đã có 3 đứa đi mãi không về, 2 đứa chưa rõ tin tức, 2 đứa theo chồng, giờ đây chỉ còn lại 3 đứa nhỏ nheo nhóc, gầy còm, yếu ớt, chưa một lần đi học. Tất cả đều do chiến tranh, chính chiến tranh đã cướp đi của mẹ tất cả, chính nó đã làm cho quê hương xứ sở này điêu tàn, nhà cửa tan hoang, ruộng vườn xơ xác, khiến gia đình mẹ phải rời bỏ nơi đây để trở về Quới Điền lánh nạn.
Mãi đến ngày 30/4/1975, đất nước được hòa bình, thống nhất, độc lập đã làm cho mẹ vui mừng không tả xiết. Gia đình mẹ cùng quay trở lại nơi cũ để làm ăn sinh sống, chăm lo phát triển kinh tế, khắc phục hậu quả do chiến tranh để lại. Người con gái thứ sáu sau bao nhiêu năm rời xa quê hương đi chiến đấu, giờ đây đã quay về thăm mẹ cùng với người chồng cũng là chiến sĩ cách mạng. Riêng người con Nguyễn Văn Út vẫn chưa rõ tin tức làm cho mẹ đứng ngồi không yên. Gia đình phải tìm đến đơn vị để hỏi thăm mới hay là anh đã hy sinh mất tích trong trận chiến đấu với giặc. Vậy là niềm hy vọng cuối cùng cũng tan biến, nhưng bù đắp lại là niềm tự hào vì con của mẹ đã quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Ghi nhận sự cống hiến to lớn công sức, xương máu cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, ngày 17/12/1994, mẹ Trần Thị Muộn được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt anh hùng”. Mẹ đã mất vào năm 2009, hưởng thọ 91 tuổi.



