Mẹ Việt Nam Anh hùng

Mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Nga (1913-2007)

Mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Nga (1913-2007)

Đồng Nai07/07/2026Ban Biên tập tổng hợp1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Mẹ Trần Thị Nga sinh năm 1913 ở huyện Nam Ninh, tỉnh Nam Hà. Vừa lớn lên, mẹ lập gia đình. Được hai mặt con, chồng mẹ bỏ nhà đi biệt tích. Phận gái như dây cát đằng cần cây cù mộc để leo mà sống, nay mất chốn nương tựa, lâm cảnh đói nghèo cực khổ, mẹ có một quyết định đau đớn: gửi lại hai con thơ cho nhà chồng, ký giao kèo đi phu công- tra (contrat) cao su Nam Kỳ. Mẹ nghe nói trong ấy làm chơi ăn thiệt, nếu mình chịu khó dành dụm, chắt bóp thì vài năm sau sẽ có cái vốn quay về quê hương gây dựng lại đời mình, đời các con.

Năm 1936, mẹ nuốt nước mắt lên tàu, vào đồn điền Bình Sơn. Thân trâu ngựa đi đâu cũng khổ, tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa; làm ruộng ở quê vất vả thì vào đây cũng chẳng nhàn gì. Sáng tinh mơ, chị phu cạo Nga đốt đuốc đi làm, ra tới lô, xòe bàn tay còn chưa thấy rõ. Xấp xấp ngửa ngửa, tất tưởi cạo hết phần cây khoán đã đến trưa. Ăn rồi nghỉ ít phút, lại làm sạc lai (làm cỏ) tới tối nhọ mặt người. Công nhân bị đòn dữ lắm, có đến hàng chục lý do để xếp, xu, cai đánh, phạt. Muốn yên thân không bị quấy rầy, mẹ đi bước nữa và lần lượt sinh hạ bốn con.

Thời kháng chiến chống Pháp, gia đình mẹ cũng như nhiều nhà khác chạy vào rừng tránh địch. Chúng càn riết, vợ chồng mẹ cùng đàn con nhỏ thiếu đói trầm trọng, đành quay về đồn điền Bình Sơn. Hàng ngày, mẹ đi bắt cua tận Quán Chim bán chỉ đủ mua một lít gạo. Vợ chồng, con cái bữa cháo, bữa cơm lần hồi. Chủ Pháp mở lại đồn điền, vợ chồng mẹ tiếp tục làm cu li cạo mủ nuôi đàn con thơ dại, thi thoảng đóng góp ủng hộ kháng chiến.

Sau Hiệp định Genève tháng 7/1954, Mỹ thay chân Pháp ở miền Nam. Cuộc sống người công nhân đồn điền cao su chẳng có gì thay đổi, vẫn vất vả như xưa.

Anh Thung - con trai đầu của mẹ với người chồng sau đã lớn, lập gia đình rồi có con. Được cán bộ ta giáo dục, anh tham gia hoạt động cách mạng tại địa phương năm anh 23 tuổi (tự vệ mật). Anh bị địch bắt một thời gian, trải qua mấy nhà tù - trong đó có trung tâm cải huấn Phú Lợi. Mẹ và vợ anh thay nhau thăm nuôi cho đến khi anh được tha về. Sống cùng gia đình một thời gian, anh được rút vào rừng, từ đó, lâu lâu mới có dịp về thăm mẹ chớp nhoáng vào ban đêm. Mấy lần, mẹ được móc nối đi thăm anh ở một căn cứ tại rừng Long Khánh, mang theo mấy thứ: tiền, thuốc men, quần áo, thức ăn... cho con và các đồng đội của con. Tuy anh Thung đã là cán bộ nhưng mẹ vẫn mường tượng con mình còn nhỏ như thuở nào mới đây, gặp thì mừng mừng tủi tủi, không muốn ra về.

Đúng thời kỳ lực lượng ta phát động quần chúng nổi dậy phá ấp chiến lược Bình Sơn thì người con thứ nhì của mẹ là Nguyễn Văn Đồng (Đậm, Xước) nối gót anh Thung đi thoát ly khi vừa 16 tuổi. Anh gia nhập một đơn vị bộ đội ở Bà Rịa năm 1965, chiến đấu ở nhiều nơi. Mẹ đi thăm Đồng ít hơn, anh cũng lâu lâu mới có dịp ghé qua nhà về thăm mẹ. Đồng chưa có vợ, có lần mẹ nhắc thì anh chỉ nói: “Chờ ngày thắng lợi, con còn trẻ mà!”

Khi quân Mỹ và các chư hầu kéo vào đông cứu nguy chế độ Sài Gòn đang ở bờ vực sụp đổ, năm 1968, con trai thứ ba của mẹ là Nguyễn Văn Cứng tiếp tục ra đi cứu nước. Anh ở một đơn vị bộ đội thuộc phân khu 4.

Là cán bộ xã, anh Thung bám trụ địa phương để hoạt động. Mẹ rất lo, tim nhói lên mỗi khi súng địch nổ dù ban ngày hay đêm khuya. Mẹ từng trông thấy một vài đồng đội của anh hy sinh ngay ven rào ấp chiến lược, nên mẹ thường vái trời cho các con mạnh chân, khỏe tay, bình an vô sự. Đêm 16/11 năm Đinh Mùi (17/12/1967), các anh Thung và Hai Đương làm nhiệm vụ treo cờ Mặt trận dân tộc giải phóng trên một cột điện nhà máy chế biến mủ Bình Sơn. Địch phát hiện, bắn dữ dội, anh Hai Đương bị thương, được anh em du kích cõng thoát. Anh Thung hy sinh, đồng đội không kịp mang đi. Sớm hôm sau, mẹ nghe tin dữ, xỉu đi, tưởng có thể chết ngay theo con. Khi gượng lại được, mẹ ra làm dữ, đòi xác con mang về chôn cất, chẳng cần xin phép xã, ấp. Bà con trong làng đi đưa đám khá đông, không sợ “liên quan với Việt Cộng” như thời Diệm. Bọn lính bảo an, dân vệ ở Bình Sơn bàn tán:

- Sao Việt Cộng chết, dân đi đưa đông thế, còn lính quốc gia trận vong, chỉ loe ngoe mấy mống theo sau.

Nghe được như vậy, mẹ tự hào ngầm, thương xót thì vẫn xót thương nhưng có phần được an ủi. Ngay bọn địch cũng thấy chết vì nước vì dân là cái chết vẻ vang, cầm súng Mỹ chống lại đồng bào mà toi mạng ắt phải chuốc lấy sự ghẻ lạnh, có khi còn bị phỉ nhổ.

Chưa đầy hai tháng sau, mẹ đón nhận tin dữ tiếp theo: Trung đội phó Nguyễn Văn Đồng (tức Đậm, Xước) hy sinh đêm mùng 2 tết Mậu Thân (31/1/1968) khi đơn vị anh đánh vào thị xã Long Khánh. Mẹ vô cùng đau đớn vì không biết mồ mả anh ở nơi nào. Chiến tranh đang hồi khốc liệt không cho phép mẹ đi tìm, đến nay cũng chưa nghe nói di hài anh được quy tập ở nghĩa trang liệt sĩ nào.

Nguyễn Văn Tài, con trai út của mẹ, gia nhập bộ đội năm 1970 ở tuổi thiếu niên khi mới 15. Mẹ không giữ con, để nó ở nhà thì mai mốt địch cũng bắt nó đi quân dịch chống lại bà con xóm làng cùng bè bạn, họ hàng thân thuộc.

Hiệp định Paris tháng 1/1973 được ký kết, mẹ đã mừng mừng. Nhưng rồi hòa bình chưa trở lại, súng đạn ì èo không thua hồi trước. Người mẹ già 61 tuổi lại đón nhận cái tin xé lòng thứ ba: anh Nguyễn Văn Cứng hy sinh ngày 20 tháng 9 năm Quý Sửu (15/10/1973) cùng 4 cán bộ chiến sĩ khác vì một trái bom thù ném trúng hầm ở sở cao su cậu Hai Giọt. Mẹ nghe nói các đồng đội chỉ hốt được ở đó một nhúm xương thịt của 5 liệt sĩ đem chôn chung một nấm.

Ngày đất nước toàn thắng, mẹ vô cùng vui sướng đón con trai út Nguyễn Văn Tài trở về trong bộ quân phục giải phóng. Mẹ lại càng nhớ tới ba con đã mất. Mẹ Trần Thị Nga đón nhận Huân chương Độc lập cao quý của Nhà nước tặng thưởng. Cuối năm 1994 mẹ được phong danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng theo Quyết định số 394/KTCTN ngày 17/12/1994

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn