Mẹ VNAH Bùi Thị Điểm
Mẹ VNAH Bùi Thị Điểm
Cũng như nhiều bà mẹ Việt Nam khác, má Bùi Thị Điểm vì yêu chồng, thương con, thương dân, yêu nước mà suốt cuộc đời vất vả gian lao. Sinh thời, má nhớ rất rõ từng mốc thời gian, mốc của từng quãng đời gian nan chìm nổi. Năm 1950, má cùng chồng và con nhỏ bồng bề dắt díu nhau đến ở đợ cho nhà ông Bảy Sáng tận Long Khánh. Công việc của má là nấu cơm, rửa chén, giặt đồ cho gia đình ông chủ và cơm nước cho đám thợ làm công. Việc tuy không nặng nhọc như “cày sâu cuốc bẫm” nhưng luôn tay, luôn chân suốt từ mờ sáng đến tối khuya. Xong công việc của một ngày, người cứ oải ra, chân tay như rời rã. Vậy mà gần chục năm trời ở đợ, má chỉ kiếm đủ miếng ăn chớ không dành dụm được đồng xu cắc bạc nào. Không chịu nổi cảnh ở đợ cực nhục, năm 1958, vợ chồng con cái đành trở về Lộc An tiếp tục “nghề” buôn bán lặt vặt. “Hàng hóa” của má chỉ lèo tèo mươi lăm cái bắp chuối, năm bảy cái chổi tàu cau, hoặc một ít cuộn lá chuối tươi bán cho người ta gói đồ. Kiếm được bữa cơm, bữa cháo cho một gia đình 9 miệng ăn (hai vợ chồng, sáu đứa con đẻ và một đứa con nuôi) thiệt không dễ dàng chút nào! Ban ngày má tất bật ở ngoài chợ, tối đến lại cặm cụi bện chổi tàu cau - vừa ngã lưng chợp mắt trời đã sáng.
Đói nghèo lúc nào cũng rình rập nhà má, đã vậy mới về Lộc An được 2 năm, chồng má ngã bệnh chết. Một mình má phải chèo chống nuôi con. Má chỉ còn trông chờ vào mấy đứa con lớn đi làm thuê, làm mướn đỡ đần cho má. Khi nỗi cực nhọc vì miếng cơm manh áo vừa vơi đi do các con lớn của má đã kiếm ra tiền, thì nỗi khổ vì nạn khủng bố càn quét của Mỹ ngụy lại làm cho gia đình má điêu đứng nhiều hơn. Bom đạn giặc Mỹ cày nát ruộng vườn, máu của người thân, máu của bà con lối xóm đã đổ! Không thể ngồi nhìn mồ mả tổ tiên bị bom Mỹ cày xới, những người thân của mình máu chảy đầu rơi, má đã không ngăn cản mà còn rất hài lòng khi các con má lần lượt lên đường theo cách mạng. Anh Dừa, anh Phong, anh Kiệm, ba người con của má cùng nhập ngũ một năm - năm 1960. Đến năm 1965, anh Đạt lại tham gia du kích địa phương, vậy là nhà má người lớn đã lần lượt đi hết, chỉ còn lại má với ba đứa con nhỏ dại. Má biết mấy người con lớn của má đi rồi gánh nặng gia đình lại đổ lên vai má, như hồi các con má còn nhỏ. Biết vậy, nhưng má vẫn ráng chịu đựng, để vui vẻ cho các con má yên lòng ra đi, vững tâm diệt giặc. Lúc này, má không chỉ lo cái ăn, cái mặc cho gia đình, mà còn lo giúp đỡ cách mạng. Khi thì mươi lăm ký gạo, lúc thì vài ba ký đường... Vật chất tuy nhỏ, nhưng tình cảm đối với các con, đối với cách mạng thật ấm áp bao la. Chồng mất sớm, một thân một mình vất vả nuôi con. Nhưng tất cả những nỗi đau ấy có thấm tháp gì so với nỗi đau khi các con má lần lượt hy sinh.
Những mốc thời gian ấy có lẽ không bao giờ phai đi trong ký ức của má. Những mốc thời gian ấy như những hòn đá tảng đè nặng trong ngực má làm cho lưng má còng đi, tóc má bạc thêm. Năm 1985, Nhà nước đã tặng má Huân chương Độc lập hạng Nhì. Năm 1992, UBND huyện Long Thành tặng danh hiệu Gia đình cách mạng gương mẫu. Và năm 1994, Nhà nước phong tặng má danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng theo Quyết định số 394/KTCTN ngày 17/12/1994. Má qua đời ngày 20/8/2016, thượng thọ 97 tuổi.


