Mẹ Việt Nam Anh hùng

Mẹ VNAH Bùi Thị Mè - Ba lần tiễn con, một đời son sắt

Mẹ Việt Nam Anh hùng Bùi Thị Mè (1921–2014), quê xã Quới An, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long, là nhà giáo, nhà hoạt động cách mạng tiêu biểu của Nam Bộ. Trong kháng chiến chống Mỹ, Mẹ là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Phụ nữ Giải phóng miền Nam Việt Nam, sau đó giữ chức Thứ trưởng Bộ Y tế, Thương binh và Xã hội của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Gia đình Mẹ có ba người con trai là liệt sĩ: Nguyễn Huỳnh Sanh, Nguyễn Huỳnh Tài, Nguyễn Huỳnh Đại; người con trai còn lạ

TP. Hồ Chí Minh03/07/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Mẹ VNAH Bùi Thị Mè - Ba lần tiễn con, một đời son sắt

Có những người mẹ được lịch sử nhớ đến bởi những chiến công.

Có những người mẹ được Tổ quốc khắc ghi bằng chính những mất mát của mình.

Mẹ Bùi Thị Mè, hay mọi người thân thương gọi là Má Năm Mè, là một người mẹ như thế.

Mỗi lần nhắc về chiến tranh, Mẹ không kể nhiều về bản thân.

Mẹ chỉ nhẹ nhàng nói:

"Chiến tranh lấy đi của mẹ nhiều lắm... nhưng không bao giờ lấy được niềm tin."

Sinh ra trong một gia đình có truyền thống hiếu học ở Vĩnh Long, từ nhỏ Mẹ đã được học hành chu đáo và trở thành cô giáo. Chính nghề dạy học đã gieo trong Mẹ tình yêu quê hương, lòng thương người và khát vọng về một đất nước độc lập. Khi cách mạng phát triển ở Nam Bộ, Mẹ cùng chồng là ông Nguyễn Văn Nhơn dấn thân vào con đường đấu tranh giải phóng dân tộc.

Những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, căn nhà của Mẹ không chỉ là tổ ấm của gia đình.

Đó còn là nơi cán bộ qua lại.

Là địa điểm liên lạc.

Là nơi nhiều cuộc họp bí mật diễn ra trong ánh đèn dầu leo lét.

Mẹ vừa nuôi con.

Vừa tham gia công tác phụ nữ.

Vừa vận động quần chúng.

Có lần, một đồng chí trẻ hỏi:

"Má ơi, má có sợ không?"

Mẹ mỉm cười:

"Sợ chứ. Nhưng nếu ai cũng sợ thì lấy ai giữ nước."

Những lời nói mộc mạc ấy đã theo nhiều cán bộ suốt những năm tháng chiến tranh.

Rồi các con của Mẹ lớn lên.

Bốn người con trai đều lần lượt khoác ba lô ra chiến trường.

Ngày tiễn con đi, Mẹ không níu kéo.

Mẹ chỉ vuốt lại cổ áo cho từng người.

Dặn dò:

"Các con sống cho xứng đáng với màu cờ Tổ quốc."

Mỗi đứa con đều quay lại cúi đầu chào mẹ.

Không ai biết đó là những lần chia tay cuối cùng.

Mùa xuân năm 1968.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân diễn ra trên khắp miền Nam.

Những người con của Mẹ đều đang chiến đấu tại chiến trường Tây Nam Bộ.

Rồi chỉ trong một thời gian rất ngắn sau chiến dịch, những tin dữ liên tiếp được gửi về.

Người con trai đầu Nguyễn Huỳnh Sanh hy sinh.

Chưa kịp nguôi ngoai.

Tiếp đó là Nguyễn Huỳnh Tài.

Rồi Nguyễn Huỳnh Đại cũng mãi mãi không trở về.

Ba người con.

Ba tờ giấy báo tử.

Chỉ trong một khoảng thời gian ngắn.

Nỗi đau ấy tưởng chừng không người mẹ nào có thể chịu đựng nổi. Người con trai còn lại là Nguyễn Huỳnh Đạo trở về với thương tật suốt đời sau chiến tranh.

Có người đến thăm Mẹ.

Lặng lẽ nắm tay.

Không biết phải nói điều gì.

Mẹ nhìn lên bàn thờ ba người con rồi chậm rãi nói:

"Các con tôi đã làm tròn bổn phận của người lính."

Không một lời oán trách.

Không một tiếng than thân.

Chỉ có đôi mắt người mẹ đỏ hoe sau những đêm dài thức trắng.

Nỗi đau riêng chưa bao giờ làm Mẹ dừng bước.

Ngay giữa những năm tháng ác liệt nhất, Mẹ vẫn tiếp tục hoạt động cách mạng.

Năm 1969, Mẹ được cử giữ chức Thứ trưởng Bộ Y tế, Thương binh và Xã hội của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Ở cương vị ấy, Mẹ luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho thương binh, gia đình liệt sĩ và những người mẹ có con hy sinh.

Mẹ thường nói:

"Mỗi thương binh đều là con mình. Mỗi bà mẹ đều mang một nỗi đau như mình."

Chính vì từng trải qua mất mát nên Mẹ càng thấu hiểu những giọt nước mắt của người khác.

Sau ngày đất nước thống nhất, Mẹ tiếp tục công tác trong Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam rồi Hội Chữ thập đỏ Thành phố Hồ Chí Minh.

Dù giữ nhiều cương vị quan trọng, Mẹ vẫn sống giản dị.

Trong ngôi nhà nhỏ ở đường Phùng Khắc Khoan, Thành phố Hồ Chí Minh, Mẹ luôn dành một góc trang trọng để đặt di ảnh ba người con.

Có lần, một đoàn học sinh đến thăm.

Một em nhỏ hỏi:

"Má có buồn không khi nhớ các bác?"

Mẹ mỉm cười hiền từ:

"Buồn chứ con. Nhưng nếu các bác còn sống, chắc cũng muốn thấy đất nước mình bình yên như hôm nay."

Năm 1994, Nhà nước phong tặng Mẹ danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.

Danh hiệu ấy không chỉ dành cho người mẹ có ba người con là liệt sĩ.

Đó còn là sự tri ân đối với người nữ trí thức, người cán bộ cách mạng và người mẹ đã dành trọn cuộc đời cho độc lập dân tộc.

Ngày Mẹ về với đất mẹ năm 2014, rất nhiều đồng đội, học trò và cán bộ từng làm việc với Mẹ đều có chung một nhận xét:

"Má Năm Mè đã sống một cuộc đời đầy nước mắt, nhưng cũng đầy ánh sáng của niềm tin."

Và chính niềm tin ấy đã giúp Mẹ đi qua những năm tháng khốc liệt nhất của chiến tranh, để trở thành biểu tượng đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong thời hoa lửa.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn