Mẹ VNAH Đặng Thị Riêu - Người mẹ đi tìm con trong ngày toàn thắng
Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Đặng Thị Riêu sinh năm 1922, quê xã An Điền, huyện Bến Cát (nay thuộc tỉnh Bình Dương), sau này sinh sống tại xã Tây Hòa (nay thuộc huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai). Trong hai cuộc kháng chiến, Mẹ cùng chồng là ông Đồng Văn Nọ tích cực tham gia cách mạng, vận động nhân dân đóng góp lương thực, vũ khí, nuôi quân và trực tiếp làm cơ sở liên lạc, đấu tranh chính trị. Ba người con trai của Mẹ là Đồng Văn Tình, Đồng Văn Kết và Đồng Văn Quả đều anh dũng hy sinh vì độc lập dân tộ

Sáng 28 tháng 4 năm 1975, khi những cánh rừng cao su ở Trảng Bom rền vang tiếng bước chân của các đơn vị Quân giải phóng tiến về Sài Gòn, có một người mẹ tóc đã bạc trắng lặng lẽ bước vào nơi bộ đội đang tập kết. Mẹ đi hết đơn vị này sang đơn vị khác, nhìn thật kỹ từng khuôn mặt người lính rồi lại lắc đầu.
Có người chiến sĩ trẻ bước đến hỏi:
"Má tìm ai vậy?"
Mẹ mỉm cười hiền hậu, giọng khàn đi vì tuổi tác:
"Má đi tìm thằng con cả. Lâu rồi nó không về, biết đâu hôm nay nó theo đơn vị này."
Người mẹ ấy là Má Đặng Thị Riêu.
Ít ai trong đơn vị hôm ấy biết rằng, người mẹ đang mòn mỏi tìm con đã mất hai người con trai trong chiến tranh và chỉ còn một niềm hy vọng cuối cùng.
Má Đặng Thị Riêu sinh năm 1922 tại vùng đất An Điền, Bến Cát, nơi giàu truyền thống yêu nước. Cùng chồng là ông Đồng Văn Nọ, Mẹ sớm tham gia các hoạt động cách mạng từ những năm kháng chiến chống thực dân Pháp.
Những năm 1946 – 1947, khi bộ đội còn vô cùng thiếu thốn, gia đình Mẹ đã tự nguyện góp cho cách mạng những tài sản quý giá nhất. Hai bộ lư đồng gia bảo được tháo xuống khỏi bàn thờ tổ tiên để nộp cho kháng chiến. Hàng trăm tấm ván của căn nhà được tháo ra làm thùng đựng đạn và vật liệu quân sự. Những giạ lúa, bao gạo tích góp sau mỗi vụ mùa cũng được chuyển hết cho bộ đội.
Có người ái ngại hỏi:
"Để lại chút gì cho con cháu chứ chị?"
Má chỉ cười:
"Đất nước còn thì con cháu mới còn."
Lời nói mộc mạc ấy đã trở thành nếp nghĩ trong cả gia đình.
Các con của Má lớn lên giữa những câu chuyện về cách mạng và lòng yêu nước. Khi mỗi người vừa tròn mười tám tuổi, Má đều động viên lên đường.
Mẹ không giữ con ở lại.
Mà tự tay chuẩn bị ba lô.
Khâu lại chiếc áo.
Gói nắm cơm.
Rồi dặn:
"Đi thì phải sống cho xứng đáng với quê mình."
Người con trai thứ hai là Đồng Văn Tình, sinh năm 1940, trở thành Trung úy, Chính trị viên phó Đại đội thuộc Tỉnh đội Sông Bé.
Người con thứ ba là Đồng Văn Kết, tham gia cách mạng từ năm 1964, làm cán bộ binh vận huyện Bến Cát.
Người con út Đồng Văn Quả, nhập ngũ năm 1966, là chiến sĩ công binh.
Trong khi các con chiến đấu ngoài mặt trận, Má và chồng vẫn tiếp tục công việc ở hậu phương. Ông Đồng Văn Nọ tham gia công tác an ninh rồi Nông hội của địa phương. Còn Má là cán bộ phụ nữ xã, vừa vận động nhân dân nuôi quân, vừa tổ chức chị em đấu tranh chính trị với địch.
Địch lập ấp chiến lược, kiểm soát gắt gao từng hạt gạo.
Má vẫn tìm đủ mọi cách chuyển lương thực vào căn cứ.
Ban ngày là người phụ nữ buôn bán bình thường.
Đêm đến lại len lỏi qua những hàng rào thép gai mang từng gùi gạo, từng chai nước mắm cho bộ đội.
Ngay cả cô con gái nhỏ Lệ cũng trở thành trinh sát, đưa tin cho du kích.
Chiến tranh bao trùm lên cả gia đình.
Rồi những mất mát bắt đầu.
Ngày 23 tháng 10 năm 1966, Đồng Văn Kết anh dũng hy sinh trong một trận chống càn.
Hai năm sau, ngày 23 tháng 10 năm 1968, người em Đồng Văn Quả nhận nhiệm vụ đặt mìn đánh sập cây cầu tại xã Hòa Định.
Cầu sập.
Nhiệm vụ hoàn thành.
Nhưng người chiến sĩ công binh trẻ tuổi cũng mãi mãi nằm lại.
Chưa đầy hai tháng sau, đúng ngày 20 tháng 12 năm 1968, người anh Đồng Văn Tình cũng anh dũng hy sinh trên chiến trường.
Chỉ trong một thời gian ngắn.
Ba người con trai của Má lần lượt ngã xuống.
Nhưng điều đau đớn nhất là gia đình lúc ấy chưa hề biết người con cả đã hy sinh.
Thông tin chiến trường bị chia cắt.
Má vẫn tin con còn sống.
Vẫn chờ.
Vẫn hy vọng.
Suốt nhiều năm.
Ngày nào thấy bộ đội hành quân qua, Má cũng hỏi:
"Có ai biết thằng Tình không?"
Không ai nỡ nói điều gì.
Cho đến sáng 28 tháng 4 năm 1975.
Khi đoàn quân tiến về giải phóng Sài Gòn dừng chân tại Trảng Bom.
Má lại đi tìm con.
Từ đơn vị này sang đơn vị khác.
Ánh mắt người mẹ già vẫn ánh lên niềm hy vọng.
Những người lính trẻ hôm ấy không ai biết rằng, người mẹ đang tìm con đã chờ suốt hơn sáu năm.
Sau ngày đất nước thống nhất.
Không phải người con trở về.
Mà là tờ giấy báo tử từ đơn vị.
Mẹ cầm tờ giấy.
Lặng người rất lâu.
Thì ra.
Người con mà Mẹ chờ đợi đã hy sinh từ ngày 20 tháng 12 năm 1968.
Suốt hơn sáu năm.
Mẹ đã chờ một người không bao giờ còn có thể trở về.
Người hàng xóm kể lại rằng hôm ấy, Má không khóc.
Mẹ chỉ ôm tờ giấy báo tử vào ngực.
Nhẹ nhàng nói:
"Vậy là má đã tìm được con rồi..."
Sau năm 1972, vì địch khủng bố dữ dội, gia đình chuyển về Trảng Bom sinh sống.
Hòa bình lập lại, từ 1975 đến 1982, dù tuổi đã cao, Má vẫn tiếp tục tham gia công tác Hội Phụ nữ ở địa phương, giúp đỡ các gia đình thương binh, liệt sĩ và vận động chị em xây dựng cuộc sống mới.
Ngày 17 tháng 12 năm 1994, Nhà nước phong tặng Má danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.
Khi được hỏi điều gì khiến Mẹ tự hào nhất, Má chỉ mỉm cười:
"Má tự hào vì các con đã sống đúng lời hứa với quê hương."
Ngày 6 tháng 1 năm 2012, Má Đặng Thị Riêu qua đời, hưởng thọ 90 tuổi.
Người mẹ từng đi tìm con trong những ngày cuối cùng của chiến tranh cuối cùng cũng được đoàn tụ với chồng và ba người con nơi cõi vĩnh hằng.



