Mẹ VNAH Dương Thị Chính - Bốn ngày và ba nỗi đau
Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Dương Thị Chính sinh năm 1923 tại xã Long Trường, huyện Thủ Đức, tỉnh Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh), trong một gia đình nông dân giàu truyền thống yêu nước. Cùng chồng là ông Trần Văn Hung, Mẹ sớm xây dựng cơ sở cách mạng, nuôi giấu cán bộ, tiếp tế lương thực và động viên các con tham gia kháng chiến. Ba người con của Mẹ là Trần Văn Hít, Trần Văn Tiến và Trần Thị Nửa đã lần lượt anh dũng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Năm 1994, Mẹ được Nhà nước truy

Có những nỗi đau đến theo năm tháng để người ta có thời gian nguôi ngoai. Nhưng cũng có những mất mát dồn dập đến mức trái tim người mẹ không kịp thở. Với Má Dương Thị Chính, cuối năm 1969 là những ngày như thế. Chỉ trong bốn ngày, Mẹ nhận tin hai người con lần lượt ngã xuống, còn trước đó vài năm, người con trai cả cũng đã mãi mãi không trở về. Ba lần tiễn con, ba lần trái tim người mẹ tan nát, nhưng niềm tin vào ngày đất nước độc lập chưa bao giờ tắt.
Má Dương Thị Chính sinh năm 1923 tại vùng đất Long Trường, Thủ Đức. Từ thuở trẻ, Mẹ cùng chồng là ông Trần Văn Hung sống bằng nghề làm ruộng. Cuộc sống tuy đạm bạc nhưng luôn chan chứa nghĩa tình. Khi cách mạng lan về quê hương, hai vợ chồng nhanh chóng trở thành những cơ sở tin cậy của lực lượng kháng chiến.
Ngôi nhà nhỏ của Mẹ dần trở thành một "địa chỉ đỏ".
Ban ngày là mái nhà của một gia đình nông dân.
Ban đêm là nơi cán bộ bí mật lui tới, là chỗ cất giấu lương thực, thuốc men và tài liệu.
Những đứa trẻ lớn lên trong ngôi nhà ấy cũng lớn lên cùng tinh thần yêu nước.
Người con trai Trần Văn Hít là người đầu tiên nối bước cha mẹ. Đầu năm 1963, anh gia nhập lực lượng du kích xã Long Trường. Vợ anh là Nguyễn Thị Nguyên, bí danh Hồng, cũng tham gia hoạt động cách mạng. Hai vợ chồng trẻ coi việc đánh giặc là trách nhiệm lớn nhất của tuổi thanh xuân.
Ngày 29 tháng 1 năm 1964, trong một chuyến công tác, anh Hít bị địch bắt.
Chúng tra tấn anh bằng đủ mọi cực hình.
Roi vọt.
Điện giật.
Đòn tra khảo.
Nhưng người chiến sĩ trẻ vẫn không khai một lời.
Cuối cùng, kẻ thù đưa anh ra bắn ngay tại đồn rồi bí mật vùi xác để gia đình không thể tìm thấy.
Má chỉ biết tin con qua lời kể của đồng đội.
Không có thi hài.
Không có nấm mộ.
Người mẹ chỉ còn biết lập một bàn thờ nhỏ, thắp nén nhang gọi tên con mỗi chiều.
Mất người con đầu, Mẹ càng lặng lẽ hơn nhưng chưa bao giờ chùn bước.
Những người con còn lại vẫn tiếp tục lên đường.
Người con trai Trần Văn Tiến tham gia lực lượng vũ trang từ năm 1962, khi mới 18 tuổi. Nhờ bản lĩnh và tinh thần dũng cảm, anh nhanh chóng trở thành Trung đội trưởng của một đơn vị thuộc Phân khu 4.
Còn người con gái thứ ba Trần Thị Nửa nhập ngũ cuối năm 1964, làm y tá quân y của Thủ Đức rồi chuyển về hoạt động tại Phước An. Chị mang theo túi thuốc cứu thương thay cho khẩu súng, ngày đêm chăm sóc thương binh giữa mưa bom bão đạn.
Má thường nói:
"Đứa cầm súng, đứa cầm băng gạc, đứa nào cũng đánh giặc."
Những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, chiến trường miền Đông Nam Bộ ngày càng ác liệt.
Ngày 9 tháng 12 năm 1969, trong một chuyến công tác gần Biên Hòa, đơn vị của anh Trần Văn Tiến rơi vào ổ phục kích. Người Trung đội trưởng trẻ tuổi chiến đấu đến cùng và anh dũng hy sinh.
Bốn ngày sau.
Ngày 13 tháng 12 năm 1969, máy bay địch trút bom xuống vùng căn cứ Phước An.
Giữa biển lửa và khói bụi, nữ y tá Trần Thị Nửa mãi mãi nằm lại trên mảnh đất mà chị từng ngày cứu chữa cho đồng đội.
Đất và nước Phước An đã ôm người con gái ấy vào lòng.
Khi tin dữ liên tiếp báo về, người ta không biết phải mở lời với Má thế nào.
Một người con.
Rồi bốn ngày sau lại thêm một người nữa.
Người mẹ già lặng đi.
Bàn thờ trong căn nhà nhỏ chỉ trong ít ngày đã phải thắp thêm hai bát nhang.
Có người hỏi:
"Má có chịu nổi không?"
Mẹ nhìn lên ba tấm di ảnh rồi khẽ đáp:
"Con của má mất, nhưng đất nước sẽ còn."
Đó không phải lời nói của một người mẹ không biết đau.
Mà là lời của một người đã đặt vận mệnh dân tộc lên trên nỗi đau riêng của mình.
Sau ngày đất nước thống nhất, Đảng và Nhà nước tặng Mẹ một căn nhà mới giữa khu vườn xanh mát, xung quanh là những hàng dừa và ao cá. Cuộc sống đã bình yên hơn, nhưng mỗi sáng, Mẹ vẫn giữ thói quen thắp ba nén hương.
Một nén cho Trần Văn Hít.
Một nén cho Trần Văn Tiến.
Một nén cho Trần Thị Nửa.
Người thân kể rằng, mỗi lần thắp nhang, Mẹ đều gọi tên từng người con như thể họ vẫn đang ở đâu đó quanh ngôi nhà.
Năm 1985, Mẹ và gia đình được Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba.
Năm 1989, sau khi đã hoàn thành trọn vẹn thiên chức của một người mẹ và trách nhiệm của một người phụ nữ cách mạng, Má Dương Thị Chính thanh thản về với tổ tiên.
Đến ngày 17 tháng 12 năm 1994, Nhà nước truy tặng Mẹ danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.
Danh hiệu ấy là sự tri ân đối với một người mẹ đã hiến dâng những người con ưu tú nhất của mình cho nền độc lập của dân tộc.



