Mẹ Việt Nam Anh hùng

Mẹ VNAH Lê Thị Giang (1916 - 1996)

Tây Ninh01/10/2026Đoàn xã Tân An Hội (Xã Tân An Hội)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Má Lê Thị Giang sinh năm 1916, ở huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Tuổi thanh xuân của má đi qua trong cơ cực và nặng gánh gia đình. Do anh ruột là Hai Thanh mai mối, má sánh duyên với Phạm Văn Mưu, một phu cạo mủ (Contrat) cùng khổ, không đủ tiền về quê được, gia đình má Giang giúp đỡ sinh sống tại Long An. Trong hoàn cảnh gia đình nghèo khó, nhưng đầm ấm, má hạ sinh 5 người con (3 trai, 2 gái) và lần lượt hiến dâng cho Tổ quốc quê hương 3 người con thân yêu : - Liệt sĩ Phạm Văn Đức, hy sinh 1961. - Liệt sĩ Lê Văn Liêm, hy sinh 1967. - Liệt sĩ Phạm Thị Sửu, hy sinh 1964. Hồi 9 năm, ngoài công chuyện mưu sinh cày thuê, cuốc mướn, má Giang đã từng cùng với chồng tham gia xay lúa, giã gạo, liên lạc cho bộ đội đằng mình đánh Tây. Bác Mưu thoát ly đi kháng chiến, má ở nhà một mình sớm hôm tần tảo nuôi đàn con nhỏ. Cho đến một hôm, hay tin chồng bị Pháp bắt đánh hộc máu, gãy sườn, rồi ném ngoài đồng. Má đã tất tả cùng bà con xóm giềng đưa về và cứu chữa. Từ đó, mọi việc lo toan cuộc sống gia đình đều trút lên đôi vai gầy yếu của má. Năm 1954, hòa bình lập lại, người đi tập kết, kẻ ở lại mong chờ ngày tuyển cử thống nhất. Rồi “quốc gia” về, bọn tay sai phản động nổi dậy nhiễu nhương, đánh phá cơ sở cách mạng. Suốt thời gian dài, Mỹ ngụy o ép, khủng bố với chính sách “Tố Cộng, diệt Cộng”, gia đình má sống vất vưởng, đói rách và nơm nớp lo sợ. Các con má: Đức, Liêm, Sửu đã lần lượt tiếp bước cha đi theo cách mạng kháng chiến. Ngày 5/5/1961, tức ngày 21 tháng 3 Tân Sửu, địch bắn chết anh Đức tại Kênh Sáng. Mãi 3 ngày sau, bà con mới đưa được xác anh về. Má kể: “Tôi đâu có nhìn thấy mặt nó, chỉ còn biết ôm lấy cái hòm mà kêu khóc, mặc cho pháo của bọn chúng ở Hậu Nghĩa bắn lên ầm ầm”. Ba năm sau, ngày 20/9/1964, tức ngày 15 tháng 8 năm Giáp Thìn, má được tin “cái Sáu” (Phạm Thị Sửu), một nữ giao liên đã bị pháo địch dập chết trên đường công tác. Má rụng rời chân tay. Con tim má như có hàng vạn mũi kim chích vào, tứa máu. Má cho hay: “Lúc đó, má không tài nào nhấc nổi cái chân, hai tay chới với, miệng kêu gào không thành tiếng, bà con phải dìu má về. Và lần này, má nhìn thấy mặt con. Nhưng đau đớn lắm con ơi...”. Má Giang đã nấc lên khi hồi tưởng lại kỷ niệm. Hẳn là khi được sinh ra và lớn lên, “cái Sáu”- con gái cưng của má đâu có hình hài bầm dập, tan nát thế này? Thế mà giờ đây... nỗi đau sinh thành của người mẹ lớn quá! Lát sau, tôi hỏi: “Hoàn cảnh nào anh Liêm lại khai họ Lê?” Má thủng thẳng đáp “Bố theo Việt Minh, anh em là Việt Cộng, nó vô rừng, tự nó đổi họ cho khác để lỡ có bề gì khỏi liên lụy tới 2 em nó ở nhà”. - Thế anh Ba hy sinh trong trường hợp nào vậy má? - Nó chết oanh liệt lắm - Má Giang nói với vẻ tự hào - thằng Sậy, một tên chiêu hồi đã dẫn biệt kích về vây ráp. Khi biết mình không thoát, Liêm đã chủ động chiến đấu bắn chếtmột tên, sau đó quay súng nhả một băng đạn vào chiếc “cán gáo”, chiếc máy bay bốc cháy và rơi xuống. Con má chết ngày 20/5/1967, tức ngày 12 tháng 4 năm Đinh Mùi. Hỏi má về những công việc tham gia cách mạng của riêng mình, má Giang chỉ lắc đầu, cho rằng việc đi đây đó, lúc lên Mây Tàu, khi rẽ qua Bảo Bình, hay lên Định Quán, mang cho mấy chú ít gạo, khô, muối, thuốc men... những việc ấy chẳng có gì đáng nói. Má nghĩ rằng con má đã chẳng tiếc máu xuơng cho cách mạng thì chuyện cỏn con của má đâu có đáng kể! Má được Nhà nước tặng danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Năm 2000, má và gia đình được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn