Mẹ Việt Nam Anh hùng

Mẹ VNAH Lê Thị Năm - Mùa xuân bên những ngôi mộ con

Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Lê Thị Năm (thường gọi là Má Năm), sinh năm 1917 tại xã Hưng Lộc, huyện Thống Nhất (nay thuộc tỉnh Đồng Nai), xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo giàu truyền thống cách mạng. Cuộc đời Má gắn liền với những mất mát to lớn khi ba người con trai là Lê Văn Khiêm, Lê Văn Khái và Lê Văn Khuê lần lượt anh dũng hy sinh trong các cuộc kháng chiến và làm nhiệm vụ sau ngày đất nước thống nhất. Bản thân Má tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1962, làm công tác phong trào, góp

TP. Hồ Chí Minh04/07/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Mẹ VNAH Lê Thị Năm - Mùa xuân bên những ngôi mộ con

Mỗi độ xuân về, khi những cành mai trước nghĩa trang liệt sĩ huyện vừa hé nụ, người dân Hưng Lộc lại thấy một người mẹ tóc bạc, lưng còng, chống gậy chậm rãi bước vào khu nghĩa trang.

Trên tay Má là bó nhang, vài bông cúc vàng và chiếc khăn tay đã cũ.

Má đi rất chậm.

Nhưng chưa bao giờ lạc đường.

Bởi nơi Má đến là nơi có ba người con đang yên nghỉ.

Người dân quen gọi Má bằng cái tên thân thương:

Má Năm.

Má Lê Thị Năm sinh năm 1917, trong một gia đình nông dân nghèo ở vùng đất Hưng Lộc.

Cuộc đời Má vốn đã nhiều cơ cực.

Mười chín tuổi, Má lập gia đình.

Nhưng hạnh phúc chẳng được bao lâu thì chồng mất vì bệnh nặng, để lại cho Má bốn đứa con thơ.

Một mình người phụ nữ trẻ gánh gồng nuôi con giữa những năm tháng đói nghèo.

Có những ngày, Má đi làm thuê từ sáng đến tối vẫn không đủ gạo nấu cháo cho các con.

Nhưng chưa bao giờ Má để các con phải bỏ học hay sống thiếu tình thương.

Ít năm sau, Má nên duyên với một cán bộ cách mạng.

Chính người chồng sau và các cơ sở cách mạng ở địa phương đã giúp Má hiểu hơn về con đường cứu nước.

Năm 1962, Má chính thức tham gia hoạt động cách mạng, làm công tác phong trào, nuôi giấu cán bộ, tiếp tế lương thực và vận động quần chúng.

Ngôi nhà nhỏ của Má trở thành nơi nhiều cán bộ dừng chân trong những năm tháng chiến tranh ác liệt.

Năm 1965, người con trai thứ hai là Lê Văn Khiêm tình nguyện nhập ngũ.

Ngày tiễn con, Má sửa lại chiếc khăn rằn trên cổ áo rồi dặn:

"Đi đánh giặc thì phải giữ lấy danh dự của người lính. Má ở nhà đợi."

Anh Khiêm trở thành chiến sĩ của Huyện đội Xuân Lộc.

Hai năm sau, vào tháng 9 năm 1967, trong một lần vận chuyển gạo phục vụ chiến trường, đơn vị của anh bị địch phục kích.

Anh chiến đấu đến cùng và anh dũng hy sinh.

Khi giấy báo tử được gửi về, Má lặng người.

Bàn tay run run vuốt lên dòng chữ ghi tên con.

Đêm ấy, Má không ngủ.

Ngọn đèn dầu trong nhà sáng đến tận sáng hôm sau.

Nỗi đau chưa kịp nguôi thì người con trai út Lê Văn Khái xin tiếp bước anh.

Khái nói với Má:

"Anh Hai mất rồi, con không thể ở nhà."

Má nhìn con rất lâu.

Rồi gật đầu.

Bởi Má hiểu, không thể giữ con khi Tổ quốc đang cần.

Khái trở thành chiến sĩ bảo vệ cơ quan Tỉnh ủy Biên Hòa.

Đầu năm 1972, chỉ còn một ngày nữa là đến lễ cưới, anh vẫn nhận nhiệm vụ đưa đoàn cán bộ vượt qua vùng địch kiểm soát.

Giữa lúc bị phục kích, anh đã lao lên, lấy chính thân mình che làn đạn cho đồng đội.

Đoàn cán bộ được bảo toàn.

Còn người thanh niên ấy mãi mãi nằm lại khi tuổi đời còn rất trẻ.

Ngày nghe tin, Má ôm bộ quần áo cưới của con vào lòng.

Chiếc áo chưa kịp mặc.

Mà người con đã không còn trở về.

Đến năm 1968, người con trai cả Lê Văn Khuê cũng lên đường nhập ngũ.

Sau ngày giải phóng miền Nam, anh công tác trong lực lượng Công an huyện Thống Nhất.

Gia đình ai cũng nghĩ chiến tranh đã kết thúc.

Lần này chắc con sẽ được bình yên.

Nhưng số phận lại nghiệt ngã.

Tháng 5 năm 1975, trong lúc cùng đồng đội thu gom bom mìn và làm sạch chiến trường để người dân trở về sản xuất, anh không may vướng mìn và hy sinh.

Tin dữ đến sau ngày đất nước thống nhất.

Đó là nỗi đau không lời nào diễn tả được.

Ba người con trai.

Ba lần tiễn biệt.

Không một ai trở về.

Có người từng hỏi Má:

"Má có oán trách chiến tranh không?"

Má lặng im rất lâu rồi đáp:

"Má đau chứ... Nhưng nếu ngày ấy con mình không đi thì đất nước đâu có ngày hòa bình."

Câu nói ấy giản dị.

Nhưng chứa đựng cả tấm lòng của một người mẹ Việt Nam.

Sau ngày đất nước thống nhất, khi cuộc sống dần yên bình, mỗi dịp Tết đến, thay vì quây quần cùng con cháu, Má lại chống gậy ra nghĩa trang liệt sĩ huyện.

Má tự tay nhổ từng bụi cỏ quanh mộ.

Lau từng tấm bia.

Đốt nén nhang.

Rồi ngồi rất lâu trước ba ngôi mộ.

Không ai biết Má đã nói gì với các con.

Chỉ thấy đôi lúc Má mỉm cười.

Đôi lúc lặng lẽ lau nước mắt.

Người quản trang kể rằng:

"Có hôm Má ngồi từ sáng đến chiều, như thể muốn kể cho các anh nghe chuyện quê hương đã đổi thay, chuyện lúa ngoài đồng được mùa, chuyện con cháu đã lớn khôn."

Ngày 17 tháng 12 năm 1994, Nhà nước phong tặng Má danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.

Khi nhận tin, Má chỉ nhẹ nhàng nói:

"Danh hiệu này là của các con tôi."

Đối với Má, điều quý giá nhất không phải là tấm bằng khen hay sự vinh danh.

Mà là sự bình yên của đất nước.

Là tiếng cười của trẻ nhỏ.

Là những cánh đồng không còn tiếng bom rơi.

Những năm cuối đời, Má chỉ có một ước nguyện rất giản dị.

Má nói với người thân:

"Khi má mất, chỉ xin Nhà nước cho má được nằm cạnh các con trong nghĩa trang liệt sĩ. Được ở gần các con thì má mãn nguyện rồi."

Ước nguyện ấy khiến ai nghe cũng nghẹn lòng.

Một người mẹ dành cả cuộc đời cho đất nước.

Đến phút cuối cùng.

Điều mong muốn nhất vẫn chỉ là được đoàn tụ với những người con đã hiến dâng tuổi xuân cho Tổ quốc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Mẹ VNAH Lê Thị Năm - Mùa xuân bên những ngôi mộ con | Câu chuyện thời hoa lửa