Mẹ VNAH: Nguyễn Thị Chính
Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Chính (1907 – 1994) Sinh năm 1907 Dân tộc Kinh, không theo tôn giáo Quê quán xã Phước Vĩnh Đông, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, xuất thân trong một gia đình bần nông.
Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Chính (1907 – 1994) sinh năm 1907, dân tộc Kinh, không theo tôn giáo, quê quán xã Phước Vĩnh Đông, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, xuất thân trong một gia đình bần nông. Chồng của Mẹ là ông Trần Văn Chồn, sinh năm 1909, quê quán xã Phước Vĩnh Đông, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, mất năm 1971, mộ an táng tại đất nhà thuộc rạch Cá Ngựa, ấp Rạch Lá, xã An Thới Đông, huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong những năm kháng chiến, gia đình Mẹ là cơ sở cách mạng tại địa phương, trực tiếp nuôi giấu, che chở và giúp đỡ cán bộ hoạt động. Mẹ có một người con duy nhất là liệt sĩ Trần Văn Hùng, sinh năm 1935, tham gia cách mạng tháng 4 năm 1958 tại huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, hy sinh ngày 20 tháng 7 năm 1964 tại ấp Vũng Gấm, xã Phước An, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai; lúc hy sinh là chiến sĩ C316 Cần Giuộc – Long An, trong khi đang làm nhiệm vụ thì bị địch phục kích và bắn chết, mộ an táng tại đất nhà thuộc rạch Cá Ngựa, ấp Rạch Lá, xã An Thới Đông, huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh. Mẹ mất ngày 20 tháng 5 (âm lịch) năm 1994. Hiện nay, Mẹ đang được thờ cúng tại ấp An Hòa, xã An Thới Đông, huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh. Với những hy sinh to lớn đó, Mẹ được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu vinh dự “Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng” theo Quyết định số 314 KT/CTN ngày 17 tháng 12 năm 1994.



