Cựu chiến binh

Mẹ VNAH Nguyễn Thị Đặng - Người mẹ giữ lửa giữa vùng kìm kẹp

Là người từng nhiều lần được má Nguyễn Thị Đặng che chở, nuôi giấu trong những năm kháng chiến, ông Nguyễn Văn Bảy vẫn luôn xúc động khi nhớ về người mẹ nhỏ bé nhưng kiên cường. Dẫu chồng mất sớm, người con trai duy nhất bị địch tra tấn rồi sát hại, má vẫn nén đau thương, tiếp tục làm chỗ dựa cho lực lượng cách mạng cho đến ngày đất nước thống nhất.

TP. Hồ Chí Minh06/07/2026Ban Biên tập tổng hợp4 lượt xem0 lượt chia sẻ
Mẹ VNAH Nguyễn Thị Đặng - Người mẹ giữ lửa giữa vùng kìm kẹp

Mỗi lần trở lại vùng Ông Kèo, xã Vĩnh Thanh, ông Nguyễn Văn Bảy đều ghé thắp nén hương trước bàn thờ má Nguyễn Thị Đặng. Ông bảo, nếu không có những người mẹ như má, biết bao cán bộ, du kích năm ấy đã không thể vượt qua những ngày tháng khốc liệt nhất của chiến tranh. Trong ký ức của ông, má Đặng luôn hiện lên với vóc người nhỏ nhắn, dáng đi chậm rãi nhưng ánh mắt lúc nào cũng đầy nghị lực. Chính dáng vẻ hiền từ ấy đã khiến quân địch nhiều lần chủ quan, không ngờ rằng người phụ nữ bình dị ấy lại là một cơ sở cách mạng kiên trung suốt hai cuộc kháng chiến.

Năm 1951, khi thực dân Pháp tăng cường càn quét, cưỡng ép nhiều hộ dân từ vùng kháng chiến trở về sống trong khu vực kiểm soát, gia đình má Đặng là một trong những đối tượng bị theo dõi gắt gao nhất. Chồng má là ông Nguyễn Văn Trụ đã tham gia Ủy ban Kháng chiến hành chính xã Phước Lý, còn người con trai duy nhất là Nguyễn Tấn Nghĩa hoạt động trong tổ quân báo của xã đội. Quân địch liên tục khám xét, hăm dọa, dò xét mọi sinh hoạt của gia đình. Vậy nhưng bằng sự bình tĩnh và khéo léo, má vẫn che giấu được mọi hoạt động, vừa buôn bán nhỏ để nuôi sống gia đình, vừa âm thầm tiếp tế lương thực, thuốc men và gây dựng nguồn hỗ trợ cho lực lượng du kích.

Ông Bảy nhớ có lần đơn vị phải rút gấp sau một trận càn lớn. Đêm ấy, má Đặng lặng lẽ mở cửa sau, đưa từng người vào trú trong căn chòi nhỏ rồi nhóm bếp nấu nồi cháo nóng. Má không nói nhiều, chỉ nhắc mọi người ăn nhanh rồi tranh thủ nghỉ lấy sức. Bên ngoài, tiếng giày lính và tiếng chó sủa vang lên từng chập, nhưng má vẫn bình thản ngồi vá áo như không có chuyện gì xảy ra. Chính sự điềm tĩnh ấy đã giúp nhiều cán bộ vượt qua những cuộc truy lùng nguy hiểm.

Người khiến má tự hào nhất cũng là người mang đến cho má nỗi đau lớn nhất, đó là người con trai duy nhất Nguyễn Tấn Nghĩa. Anh nổi tiếng gan dạ, thông minh, thường xuyên bám sát các đồn bốt để thu thập tin tức cho bộ đội. Một lần bị quân Pháp bắt tại khu kho đạn Thành Tuy Hạ, anh bị giam suốt sáu tháng trong bót Catinat. Chúng dùng đủ mọi cực hình để khai thác nhưng anh vẫn một mực giữ bí mật. Khi được thả về, thân thể anh đầy thương tích, tay chân gần như tê liệt. Nhiều người nghĩ anh sẽ không thể đứng dậy được nữa.

Ông Bảy kể rằng chính đôi bàn tay của má Đặng đã kéo anh Nghĩa trở về với cuộc sống. Má lặn lội khắp nơi tìm thuốc, sắc từng thang lá, xoa bóp cho con mỗi ngày. Có những đêm thức trắng vì con đau nhức, má vẫn không một lời than vãn. Nhờ tình thương và sự chăm sóc tận tụy ấy, anh Nghĩa dần hồi phục rồi lại xin trở về đơn vị, tiếp tục làm nhiệm vụ. Má hiểu con sẽ lại đối diện với hiểm nguy, nhưng vẫn lặng lẽ chuẩn bị hành trang và tiễn con lên đường bằng nụ cười động viên.

Rồi điều đau đớn nhất cũng đến. Trong một chuyến công tác, anh Nghĩa bị phục kích, trúng đạn và rơi vào tay địch. Chúng tiếp tục tra khảo hòng moi tin về cơ sở cách mạng nhưng không thành. Cuối cùng, chúng sát hại anh rồi bí mật thủ tiêu thi thể. Tin dữ truyền về khiến cả xóm lặng đi. Ai cũng nghĩ má Đặng sẽ gục ngã vì người con trai duy nhất đã vĩnh viễn không trở về.

Thế nhưng chỉ ít ngày sau, người ta lại thấy má xuất hiện với gánh hàng quen thuộc, vẫn âm thầm đi qua những con đường làng, vẫn tiếp tục liên lạc, tiếp tế cho cán bộ. Khi được hỏi vì sao còn đủ sức đứng lên, má chỉ nhẹ nhàng nói: "Con mình mất rồi, nhưng còn biết bao đứa con của cách mạng đang cần một mái nhà, một bát cơm, một lời động viên. Mình không được phép dừng lại."

Theo ông Bảy, chính câu nói ấy đã tiếp thêm nghị lực cho biết bao chiến sĩ trẻ. Họ xem má như mẹ ruột của mình. Mỗi khi ghé qua, má đều hỏi han, vá lại chiếc áo rách, gói cho ít cơm nắm hay dúi vào tay vài viên thuốc. Má chưa từng cầm súng trực tiếp chiến đấu, nhưng tình yêu nước và sự hy sinh của má đã trở thành hậu phương vững chắc cho biết bao người con ra trận.

Sau ngày đất nước thống nhất, má Nguyễn Thị Đặng vẫn sống giản dị như suốt cuộc đời mình. Năm 1985, má và gia đình được Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba. Đến năm 1994, má vinh dự được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng để ghi nhận những cống hiến lớn lao cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Ngày 24 tháng 7 năm 1997, má thanh thản về với chồng và người con trai duy nhất.

Khép lại câu chuyện, ông Nguyễn Văn Bảy xúc động nói: "Má Đặng không chỉ sinh ra một người chiến sĩ, mà còn chở che cho cả một thế hệ chiến sĩ. Điều má để lại không phải là của cải, mà là tấm gương về lòng yêu nước, sự nhẫn nại và đức hy sinh. Đến hôm nay, mỗi lần nhớ về má, chúng tôi vẫn thấy ngọn lửa cách mạng năm nào chưa bao giờ tắt."

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn