Mẹ VNAH Nguyễn Thị Hường -
Là người nhiều năm hoạt động cùng phong trào cách mạng ở xã Bình Giang, bà Nguyễn Thị Lý vẫn nhớ như in hình ảnh mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Hường. Ngôi nhà của mẹ bị đốt đến bảy lần nhưng cũng bảy lần được dựng lại. Sau mỗi mất mát của chồng và các con, mẹ không gục ngã mà tiếp tục giữ vững niềm tin, trở thành chỗ dựa cho phong trào cách mạng giữa vùng "cài răng lược" khốc liệt.

Mỗi lần đi ngang vùng đất Bình Giang, bà Nguyễn Thị Lý đều dừng chân thật lâu trước nền nhà cũ của mẹ Nguyễn Thị Hường. Bà bảo, nơi ấy không chỉ là một mái nhà của một gia đình nông dân mà còn là một "pháo đài lòng dân" trong những năm tháng chiến tranh ác liệt. Điều khiến bà nhớ nhất không phải là những lần bom đạn cày xới làng quê, mà là hình ảnh người mẹ nhỏ bé lặng lẽ dựng lại căn nhà sau mỗi lần bị địch đốt phá, như thể muốn nói với kẻ thù rằng ý chí của người dân Bình Giang sẽ không bao giờ bị khuất phục.
Mẹ Nguyễn Thị Hường quê ở xã Bình Giang, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Mẹ cùng chồng là ông Nguyễn Bồng nuôi dạy tám người con, sáu trai và hai gái, trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước. Các con lớn lên đều lần lượt tham gia du kích, huyện đội, tỉnh đội, tiếp bước con đường của cha. Những năm đầu thập niên 1960, Bình Giang là vùng "cài răng lược", ban ngày quân địch kiểm soát, ban đêm lực lượng cách mạng hoạt động. Ngôi nhà của mẹ vì thế luôn bị theo dõi, lục soát và nhiều lần trở thành mục tiêu trả thù.
Bà Lý kể rằng có những năm, lính Mỹ và chính quyền Sài Gòn đốt sạch cả xóm. Nhà mẹ Hường bị đốt đến bảy lần. Mỗi lần chỉ còn trơ lại nền đất và vài cột cháy đen, bà con lại kéo đến giúp mẹ dựng nhà mới. Chính tại khoảng sân nhỏ ấy, vào những đêm tiếng pháo vừa dứt, cán bộ và nhân dân lại bí mật tụ họp để bàn việc đấu tranh, đào thêm hầm bí mật và tổ chức nuôi giấu lực lượng cách mạng. Mẹ Hường luôn là người chuẩn bị nồi nước, nắm cơm và cũng là người cuối cùng tắt ngọn đèn khi mọi người giải tán.
Cuối năm Mậu Thân 1968, tai họa ập xuống gia đình. Ông Nguyễn Bồng, chồng mẹ, khi ấy là Hội trưởng Hội Phụ lão xã Bình Giang, cùng bà con kéo ra Hội An đấu tranh đòi chấm dứt việc quân địch bắn phá bừa bãi vào khu dân cư. Đoàn biểu tình bị chỉ điểm, ông cùng nhiều người bị bắt. Sau hơn ba tháng giam cầm và tra tấn, không khai thác được gì, địch đã đưa ông cùng mười sáu đồng bào khác ra xử bắn vào rạng sáng ngày 22 tháng 2 năm 1969.
Khi nhận được tin, mẹ Hường không dám khóc thành tiếng. Mẹ cải trang thành người bán cá, len lỏi đến nơi chồng bị hành quyết chỉ mong nhìn ông lần cuối. Nhưng khi tới nơi, bà con đã kịp chôn cất các nạn nhân. Mẹ chỉ biết lặng lẽ đứng từ xa, nén nước mắt rồi quay về. Đêm hôm ấy, thay vì gục ngã, mẹ cầm cuốc đào thêm hai hầm bí mật sau vườn để cán bộ có nơi trú ẩn. Theo bà Lý, đó là cách mẹ biến đau thương thành hành động.
Nỗi đau chưa kịp nguôi thì đầu năm 1970, người con trai Nguyễn Đình Diện tiếp tục lên đường chiến đấu. Thấy mẹ tuổi đã cao, sức đã yếu và gia đình bị địch theo dõi gắt gao, anh khuyên mẹ đưa người em út mới mười hai tuổi là Nguyễn Đình Liệu vào vùng căn cứ ở Suối Cả, Long Khánh để tiếp tục nuôi dưỡng lực lượng cách mạng. Ít lâu sau, trong một trận chống càn, anh Diện chiến đấu đến viên đạn cuối cùng trước khi bị địch bắt và sát hại tại Bàu Đồng Mồ. Tin con hy sinh khiến cả làng xót xa, nhưng mẹ chỉ lặng lẽ thắp nén hương rồi tiếp tục động viên những người con còn lại giữ vững chí khí.
Bà Lý nhớ rất rõ câu nói của mẹ ngày ấy: "Nhà mình còn người thì còn theo cách mạng." Chính vì thế, sau khi mất chồng và một người con, mẹ vẫn quyết định để người con út bước vào chiến khu khi mới mười hai tuổi. Với mẹ, giữ lại con bên mình là tình mẫu tử, nhưng để con góp sức cho đất nước mới là trách nhiệm của một gia đình cách mạng.
Đến năm 1972, thêm một lần nữa mẹ nhận tin dữ. Người con trai Nguyễn Văn Mạnh, Tiểu đội trưởng Công binh tỉnh Quảng Nam, hy sinh trong lúc đi trinh sát mở đường phục vụ chiến dịch mùa khô. Bà Lý kể rằng hôm ấy mẹ ngồi rất lâu trước hiên nhà, đôi mắt đỏ hoe nhưng không một lời oán trách. Mẹ chỉ khẽ vuốt lại tấm ảnh của con rồi nói: "Các con đã làm tròn lời hứa với quê hương."
Chiến tranh kết thúc, đất nước thống nhất nhưng những người thân yêu nhất của mẹ đã không còn trở về đông đủ. Những mất mát ấy được bù đắp phần nào khi Tổ quốc ghi nhận công lao của mẹ. Năm 1994, Nhà nước truy tặng mẹ Nguyễn Thị Hường danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng để tri ân sự hy sinh to lớn của mẹ và gia đình đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Khép lại câu chuyện, bà Nguyễn Thị Lý xúc động nói: "Điều tôi nhớ nhất về mẹ Hường không phải là những tấm huân chương hay danh hiệu cao quý, mà là hình ảnh mẹ đứng giữa nền nhà cháy, tay cầm cây cột mới, miệng động viên bà con dựng lại mái nhà. Nhà có thể bị đốt bảy lần, nhưng lòng yêu nước của mẹ thì không một ngọn lửa nào thiêu cháy được. Chính những người mẹ như mẹ Hường đã giữ cho ngọn lửa cách mạng luôn cháy sáng giữa những năm tháng khốc liệt nhất của quê hương Quảng Nam."


