Cựu chiến binh

Mẹ VNAH Nguyễn Thị Hương - Những chiếc võng chờ người trở về

Là một thương binh từng nhiều lần được mẹ Nguyễn Thị Hương cứu chữa và nuôi giấu trong căn nhà nhỏ ở xã Hiệp Phước, ông Nguyễn Văn Năm luôn gọi mẹ bằng hai tiếng "má". Trong ký ức của ông, căn nhà của mẹ không chỉ là nơi trú ẩn an toàn của thương binh mà còn là mái nhà của tình mẫu tử giữa những năm tháng chiến tranh. Dẫu lần lượt mất ba người con trai, mẹ vẫn tiếp tục mở rộng vòng tay chăm sóc những người lính như chính con ruột của mình.

TP. Hồ Chí Minh06/07/2026Ban Biên tập tổng hợp4 lượt xem0 lượt chia sẻ
Mẹ VNAH Nguyễn Thị Hương - Những chiếc võng chờ người trở về

Ông Nguyễn Văn Năm vẫn còn nhớ rất rõ những chiếc võng mắc kín dưới mái nhà lá của má Nguyễn Thị Hương. Đó không phải những chiếc võng dành cho gia đình, mà dành cho thương binh. Trong những năm tháng chiến tranh ác liệt ở vùng Hiệp Phước, ai bị thương cũng biết đường tìm đến nhà má. Chỉ cần bước qua cánh cổng nhỏ là sẽ có người mẹ hiền tất tả lấy nước, băng bó vết thương và nấu một bát cháo nóng.

Má Nguyễn Thị Hương từ quê Long Thọ về làm dâu ở Hiệp Phước khi còn rất trẻ. Cùng chồng khai phá đất hoang, dựng nên căn nhà và mảnh vườn nhỏ, má chưa bao giờ nghĩ nơi ấy sau này lại trở thành một trạm cứu thương bí mật của cách mạng. Từ thuở còn thiếu nữ, má đã theo ông nội đi bán thuốc tễ khắp nơi. Chính nghề ấy giúp má hiểu biết về cây thuốc và có thêm chút tiền để mua bông băng, sữa và thuốc tây dành cho những người lính bị thương.

Ông Năm kể rằng trong nhà má lúc nào cũng có sẵn nhiều chiếc võng được mắc dưới hàng hiên và trong gian nhà sau. Khi thương binh được đưa đến, má nhanh chóng cắt quần áo, rửa vết thương rồi lấy thuốc đắp. Nếu tình hình căng thẳng, má cùng chồng và ba người con gái lập tức đưa thương binh xuống hầm bí mật hoặc dẫn sang nơi trú ẩn khác. Mọi việc diễn ra nhanh đến mức ai mới đến lần đầu cũng ngạc nhiên vì sự thuần thục của cả gia đình.

Có lần đơn vị của ông bị địch càn quét, ông bị mảnh đạn găm vào vai và được đồng đội cáng đến nhà má lúc nửa đêm. Má không hỏi tên tuổi hay đơn vị, chỉ nói: "Đã là bộ đội thì cứ vào đây." Suốt nhiều ngày sau đó, má thay băng, sắc thuốc và nhường cả phần gạo ít ỏi của gia đình để nấu cháo cho ông. Khi sức khỏe khá hơn, má lại cẩn thận chuẩn bị ít cơm nắm để ông tiếp tục trở về đơn vị.

Ông Năm bảo rằng điều làm ông cảm động nhất là má luôn xem những người lính bị thương như con ruột. Má từng nói: "Má có ba đứa con đi đánh giặc. Biết đâu ở nơi khác, lúc tụi nó bị thương cũng có người mẹ như má cưu mang." Chính suy nghĩ giản dị ấy khiến căn nhà nhỏ giữa vườn cây lúc nào cũng đầy ắp tình người.

Nhưng chiến tranh không vì thế mà nương tay với gia đình má.

Người con trai cả Đặng Văn Thép tham gia đội du kích xã Long Thọ từ khi còn rất trẻ. Mới mười bảy tuổi, anh đã anh dũng hy sinh trong một trận chống càn năm 1947. Tin con mất đến với má khi đất nước còn chìm trong khói lửa. Má chỉ biết lặng lẽ thắp nén nhang rồi tiếp tục công việc cứu chữa thương binh.

Nhiều năm sau, người con trai thứ hai là Đặng Văn Sang tiếp tục lên đường chiến đấu. Anh tham gia du kích xã Phước Lai rồi hy sinh năm 1963 do trúng trái nổ trên đường làm nhiệm vụ. Đồng đội chỉ biết anh ngã xuống ở vùng Lòng Chảo. Sau hòa bình, má không biết bao lần lặn lội đi tìm mộ con nhưng vùng đất ấy đã bị san lấp, mọi dấu vết đều không còn.

Ông Năm kể rằng mỗi lần đi tìm con trở về tay trắng, má lại lặng lẽ ra sau vườn tưới cây rồi tiếp tục chăm sóc thương binh như thường lệ. Má chưa bao giờ để nỗi đau riêng làm chậm đi việc của cách mạng.

Người con trai út Đặng Văn Đức cũng tiếp bước hai anh gia nhập Đại đội 240. Ông Năm từng có thời gian chiến đấu cùng anh nên nhớ rất rõ sự gan dạ của người đồng đội ấy. Tháng 5 năm 1969, trong trận đánh tại Xóm Hố, Phú Hội, anh anh dũng hy sinh. Khác với hai người anh, lần này gia đình tìm được thi hài và đưa anh về an táng trong khu vườn nhà. Đó là người con duy nhất má còn có thể thắp hương bên một nấm mộ thật sự.

Sau ba lần nhận giấy báo tử, nhiều người nghĩ má sẽ không còn đủ sức tiếp tục công việc. Nhưng ngay cả khi không còn người con trai nào bên cạnh, căn nhà của má vẫn luôn sáng đèn mỗi khi có thương binh tìm đến. Những chiếc võng vẫn được mắc sẵn. Hầm bí mật vẫn được dọn dẹp thường xuyên. Ông Năm nói rằng má chưa bao giờ coi việc ấy là sự hy sinh. Má chỉ xem đó là trách nhiệm của một người mẹ đối với những người con đang chiến đấu cho Tổ quốc.

Ngày đất nước thống nhất, nhiều thương binh như ông Nguyễn Văn Năm trở lại thăm má. Người thì chống nạng, người mất một cánh tay, nhưng ai cũng gọi má bằng tiếng "má" thân thương. Căn nhà nhỏ ngày nào không còn tiếng súng, chỉ còn những câu chuyện về đồng đội và những người con đã nằm lại.

Năm 1994, Nhà nước phong tặng má Nguyễn Thị Hương danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Năm 2000, má và gia đình được trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba để ghi nhận những cống hiến to lớn đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc. Ngày 1 tháng 10 năm 2005, má thanh thản qua đời trong vòng tay con cháu và những người con nuôi năm xưa.

Khép lại câu chuyện, ông Nguyễn Văn Năm xúc động nói: "Điều tôi nhớ nhất về má Hương không phải là những tấm huân chương, mà là những chiếc võng luôn được mắc sẵn dưới mái nhà. Ba người con ruột của má đã hy sinh, nhưng má chưa bao giờ để một người lính nào đến nhà mình cảm thấy lẻ loi. Với chúng tôi, má mãi là người mẹ đã dùng cả cuộc đời để vá lành những vết thương của chiến tranh."

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn