Mẹ VNAH Nguyễn Thị Khuyên - Mẹ ôm những ngôi mộ vô danh
Là một trong những người lính từng nhiều lần được mẹ Nguyễn Thị Khuyên nuôi giấu và chăm sóc như con ruột, ông Nguyễn Văn Huân vẫn không quên hình ảnh người mẹ đã hiến dâng cả hai người con cho Tổ quốc. Sau ngày hòa bình, không tìm được hài cốt con gái, mẹ lặng lẽ ôm những ngôi mộ vô danh trong nghĩa trang liệt sĩ mà khóc, xem đó như nơi gửi gắm tình mẫu tử còn dang dở.

Mỗi dịp đến nghĩa trang liệt sĩ, ông Nguyễn Văn Huân đều nhớ đến mẹ Nguyễn Thị Khuyên. Ông bảo rằng, trong suốt cuộc đời mình, ông từng chứng kiến nhiều người mẹ mất con vì chiến tranh, nhưng ít ai khiến ông day dứt như mẹ Khuyên. Điều ám ảnh ông không phải chỉ là sự hy sinh của gia đình mẹ, mà là hình ảnh một người mẹ già ôm lấy những ngôi mộ không tên, lặng lẽ gọi tên người con gái vẫn chưa tìm được hài cốt sau ngày đất nước thống nhất.
Mẹ Nguyễn Thị Khuyên sinh năm 1927 tại làng Tân Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, trong một gia đình nông dân giàu truyền thống yêu nước. Lớn lên giữa những năm tháng đất nước còn chìm trong khói lửa, mẹ sớm tham gia hoạt động cách mạng. Sau khi lập gia đình, mẹ sinh được hai người con, một trai, một gái. Cả hai đều tiếp bước cha mẹ đi theo cách mạng và rồi đều ngã xuống khi tuổi đời còn rất trẻ.
Theo lời ông Huân, từ trước khi người con trai Nguyễn Văn Ro hy sinh, mẹ đã là người bí mật móc nối cơ sở cho lực lượng cách mạng. Năm 1958, mẹ bị địch bắt vì bị tình nghi hoạt động cho cách mạng. Sáu tháng trong nhà tù Giồng Trôm là sáu tháng mẹ phải chịu đủ mọi cực hình tra khảo. Chúng đánh đập, hăm dọa, tìm mọi cách buộc mẹ khai ra cơ sở bí mật. Thế nhưng người phụ nữ nhỏ bé ấy vẫn cắn răng chịu đựng, không hé lộ nửa lời. Khi được thả về, trên người mẹ đầy những vết thương, nhưng việc đầu tiên mẹ làm không phải là nghỉ ngơi mà lại tìm cách nối lại liên lạc với tổ chức.
Năm 1961, người con trai Nguyễn Văn Ro lúc ấy là Bí thư Chi bộ xã Tân Thạnh anh dũng hy sinh trong một trận diệt ác, phá tề. Hôm nhận tin con mất, mẹ lặng người rất lâu. Nhưng rồi mẹ chỉ khẽ lau nước mắt và tiếp tục công việc dang dở của con. Ông Huân kể, mẹ từng nói: "Con mình ngã xuống thì mình càng phải sống cho xứng đáng với nó."
Năm sau, giặc đốt sạch ngôi nhà của gia đình. Mẹ cùng chồng và cô con gái Nguyễn Thị Thắng rời quê đến Ngãi Giao lập nghiệp. Cuộc sống nơi vùng đất mới vô cùng thiếu thốn nhưng cũng chính tại đây, mẹ lại tiếp tục dấn thân. Chồng mẹ tham gia Ban Chấp hành xã, còn mẹ là Ủy viên Ban Chấp hành Phụ nữ xã. Ngôi nhà đơn sơ của mẹ nhanh chóng trở thành trạm giao liên bí mật. Những người lính hành quân qua đều biết rằng ở đó luôn có một bữa cơm nóng, một chỗ nghỉ an toàn và một người mẹ sẵn sàng vá áo, băng bó vết thương cho họ.
Ông Huân nhớ rất rõ những ngày bị thương sau một trận càn. Chính mẹ Khuyên đã giấu ông trong căn hầm dưới nền nhà suốt nhiều ngày. Ban đêm, mẹ lặng lẽ nấu cháo, mang thuốc xuống chăm sóc. Ban ngày, mẹ vẫn ra đồng làm rẫy như không có chuyện gì để đánh lạc hướng quân địch. Với những người lính xa quê, mẹ không chỉ là cơ sở cách mạng mà còn là người mẹ thực sự.
Những năm ấy, người con gái Nguyễn Thị Thắng cũng tình nguyện gia nhập lực lượng quân nhu Quân khu 7. Mẹ tiễn con đi trong niềm tin ngày thắng lợi sẽ được đoàn tụ. Nhưng đầu năm 1967, lá thư báo tử gửi về đã cướp đi niềm hy vọng cuối cùng. Chỉ trong vài năm, mẹ lần lượt mất cả hai người con. Ông Huân kể, hôm ấy mẹ không khóc trước mặt mọi người. Đến khuya, khi ai cũng đã ngủ, ông mới nghe tiếng mẹ nghẹn ngào phía sau vườn.
Dẫu vậy, chiến tranh vẫn chưa buông tha. Sau trận Bình Giã, quân địch điên cuồng khủng bố, mẹ cùng chồng lại phải lánh vào vùng Tà Lài, huyện Tân Phú. Một lần nữa, từ mảnh đất hoang, mẹ dựng lại căn nhà mới, khai hoang làm rẫy, tiếp tục nuôi giấu cán bộ và vận chuyển lương thực cho bộ đội. Hai lần nhà bị đốt ở Ngãi Giao, một lần bị bắt giam tại chi khu Đức Thạnh rồi nhiều lần phải dời nơi ở, nhưng chưa bao giờ mẹ nghĩ đến việc từ bỏ con đường mình đã chọn.
Ngày đất nước thống nhất, nhiều gia đình hạnh phúc đón người thân trở về, còn mẹ chỉ còn lại nỗi nhớ. Mẹ tìm được phần mộ người con trai Nguyễn Văn Ro tại Nghĩa trang Liệt sĩ tỉnh Bến Tre, nhưng người con gái Nguyễn Thị Thắng vẫn biệt vô âm tín. Mỗi lần đến nghĩa trang, mẹ lại lặng lẽ thắp hương rồi ôm lấy những ngôi mộ chưa biết tên mà khóc. Mẹ bảo biết đâu trong số ấy có con gái mình đang nằm. Hình ảnh ấy khiến những người có mặt không ai cầm được nước mắt.
Ông Huân xúc động kể rằng, dù mất cả hai người con ruột, mẹ vẫn mở rộng vòng tay với những người lính còn sống. Mẹ xem ông cùng nhiều đồng đội như con. Những cái tên như anh Lẹ, anh Đức hay chị Lài đều được mẹ yêu thương, chăm sóc bằng tất cả tình mẫu tử. Với mẹ, chỉ cần còn là người của cách mạng thì đều là con của mẹ.
Năm mẹ sáu mươi tám tuổi, Đoàn Thanh niên huyện Tân Phú đã góp sức xây tặng mẹ một căn nhà tình nghĩa. Đó là món quà tri ân dành cho người mẹ đã dành cả tuổi xuân, cả gia đình và hạnh phúc riêng để góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Năm 1994, Nhà nước phong tặng mẹ danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng để ghi nhận những cống hiến và hy sinh to lớn ấy.
Khép lại câu chuyện, ông Nguyễn Văn Huân lặng giọng: "Điều mẹ Khuyên để lại cho chúng tôi không chỉ là những bữa cơm thời chiến hay những lần che chở giữa bom đạn. Điều lớn nhất là bài học về lòng nhân hậu và sự hy sinh. Mẹ mất đi hai người con ruột nhưng lại có thêm biết bao người con của Tổ quốc. Đến hôm nay, mỗi lần nhớ về mẹ, tôi vẫn hình dung dáng người gầy gò ôm những ngôi mộ vô danh mà gọi tên con. Đó là hình ảnh không ai có thể quên trong suốt cuộc đời mình."


