MẸ VNAH TRẦN THỊ KẾ "CHỒNG CON TAO TRONG TRÁI TIM TAO ĐÂY, CHÚNG BÂY MỔ RA MÀ KIẾM"
Đứng ở bến phà phía Phước Long nhìn sang bờ bên kia, cù lao Ốc như một chiến hạm nỗi khổng lồ nằm giữa dòng sông Hàm Luông bát ngát, mà chiều dài là một màu xanh bất tận trông ngút tầm mắt, theo các cụ già kể lại thì cù lao này đã có từ thời khai hoang lập ấp, có thể thời ấp còn là những cồn bãi nhấp nhô trên mặt nước, theo bản đồ cũ cách đây hàng trăm năm đã có cù lao này rồi. Cùng nằm chung trong quy luật hình thành các cồn hay cù lao mở phía cuối dòng sông Cửu Long, cù lao Ốc do phù sa từ phía thượng nguồn, từ năm này qua năm khác bồi tụ nên, xưa kia khi còn là những bãi bồi lẫn lộn bùn cát, những cây sú, vẹt, ô rô, cóc kèn cùng những loài cây dại khác bám rễ mọc lên, có một loài ốc cũng bám lấy nơi đây và sinh trưởng khá mạnh, cái tên cù lao Ốc hay cồn Ốc ra đời từ đó. Ngày nay cái tên dân dã, mộc mạc ấy vẫn còn được lưu giữ, nhưng cảnh vật và đời sống đã có nhiều đổi thay đáng kể, một hòn đảo ngập tràn màu xanh của dừa, chuối, xoài, nhãn, bưởi, chanh,... dân cư đông đúc, nhà cửa khang trang, có thể đi từ đầu đến cuối cù lao Ốc bằng xe gắn máy trên con lộ dài khoảng 7-8km.
Cù lao Ốc thời kháng chiến là một ấp của xã Thạnh Phú Đông anh hùng, quê hương của nhà thơ yêu nước nổi tiếng nửa sau thế kỷ XIX Phan Văn Trị, nay là xã Phước Long, tỉnh Vĩnh Long. Bà Trần Thị Kế sinh ra tại mảnh đất này năm 1900, là con út của một gia đình khá giả. Chồng bà là ông Phạm Công Văn, bà con địa phương thường gọi là ông Mười Văn, do đó, bà Kế cũng được gọi là bà Mười, hay má Mười. Lớn lên trên vùng đất giàu truyền thống yêu nước, ông Văn tham gia phong trào Thiên Địa Hội, bị bắt và bị tù. Sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940, ông bị bắt và đày đi Bà Rá (tỉnh Sông Bé). Năm 1945, ông tham gia giành chính quyền ở địa phương, công tác ở Tỉnh đội Bến Tre, sau chuyển qua làm công tác ở Hội Nông dân Cứu quốc tỉnh. Trong kháng chiến chống Pháp, bà Trần Thị Kế tham gia Hội Phụ nữ Cứu quốc xã và là Ủy viên Ban Chấp hành, năm 1948 bà được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt nam.
Năm 1954, khi Ngô Đình Diệm phát động chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng", ráo riết truy lùng, khủng bố những người kháng chiến cũ, thì chồng và các con lớn của bà đều thoát lỵ, hoặc “điều lắng" nơi khác, chỉ còn một mình bà bám trụ, hoạt động hợp pháp tại quê nhà.
Trong các năm 1957-1959, địch tập trung đánh phá phong trào cách mạng ở Bến Tre rất khóc liệt, thâm độc hơn, chúng còn dùng chước “dĩ cộng, diệt cộng", dùng bọn đầu hàng, phản bội để chỉ điểm, truy lùng đảng viên, bắt cán bộ và quần chúng cơ sở của cách mạng, chúng thẳng tay đàn áp, giết hàng ngàn cán bộ, đảng viên và quần chúng yêu nước, Đình làng trở thành nơi tra tấn, giam cầm. Ngày 17-4-1959, bọn công an Ngô quyền đến cồn Ốc, bao vây nhà má Kế, chúng lùng sục, tìm kiếm khắp nơi, nhưng vẫn không tìm ra hầm bí mật hay dấu tích gì khả nghi có "Việt cộng nằm vùng", chúng quay lại tra khảo má, hồng khai thác được tin tức chồng, con của má. Trải qua những đòn tra tấn tàn bạo, má Kế vẫn một mực trả lời chúng là chồng, con bà đã biệt tích từ nhiều năm nay, bà chỉ ở đây có một mình với hai đứa cháu, như một bầy thú hăng máu, chúng lồng lộn, dỡ những trò tra tấn man rợ nhất đối với má.
Trước tình hình giặc càn quét, khủng bố, bắt, giết người dân vô tội diễn ra hằng ngày trên quê hương, từ lâu má Kế cũng đã cảnh giác một ngày nào đó, bọn công an, mật vụ sẽ tìm đến gia đình má, nhưng sự việc này diễn ra quá nhanh và đột ngột, những trận đòn xối xả trút lên thân hình già nua của má quá ác liệt và tàn bạo, má Kế cố lấy hết sức còn lại, gượng ngồi dậy, đưa tay chỉ vào ngực mình nói: “Chồng con tao ở trong trái tim tao đây, chúng bây mổ ra mà kiếm"!.
Trước tình thế đó, tên cầm đầu thấy không nên kéo dài cuộc tra hỏi ở nơi đây, hắn ra lệnh cho bọn lính đưa má Kế về thị xã Bến Tre. Ở Ty Công an Bến Tre, chúng có nhiều phương tiện, thủ đoạn tra tấn ác liệt hơn, hòng có thể khuất phục được má, nhưng bằng mọi thủ đoạn tinh vi và xảo quyệt, bằng những phương tiện, dụng cụ tra tấn tối tân và man rợ nhất, bọn địch vẫn không khai thác được ở má Kế chi tiết nào như chung mong muốn. Đến ngày thứ ba, tức ngày 20-4-1959, má Kế trút hơi thở cuối cùng. Biết tin đau đớn này, gia đình nhờ người đến xin xác đem về, nhưng chúng không cho, nhờ cơ sở bên trong, gia đình mới biết chúng đã bí mật đưa thi hài má chôn ở Bình Nguyên, đến sau ngày giải phóng. Sở Lao đông Thương binh và Xã hội cũng gia đình mới cải táng hài cốt má về Nghĩa trang liệt sĩ tỉnh Bến Tre.
“Chồng con tao ở trong trái tim tao đây, chúng bây mổ ra mà kiểm"! Câu nói đầy khí phách, can trường của má Trần Thị Kế vọng lên giữa lúc không khí khủng bố, đàn áp ngột ngạt đè lên đầu của Nhân dân Bến Tre nói chung, Nhân dân Giồng Trôm nói riêng, nó có một ý nghĩa thực tiễn rất lớn, cảnh tỉnh những người đang dao động, có tư tưởng bảo mạng trước sức đánh phá tàn bạo của kẻ thù, tiếp sức chiến đấu cho cán bộ, đảng viên, động viên họ giữ vững ý chí bất khuất, nó nêu lên một tấm gương yêu nước cao đẹp, trong sáng của người phụ nữ quê hương Giồng Trôm để mọi người cùng noi theo.



