Mẹ Việt Nam Anh hùng

Mẹ VNAH Trương Thị Cúc - Ba nén hương giữa hai miền ký ức

Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Trương Thị Cúc sinh năm 1921, quê xã Tiên Cẩm, huyện Tiên Phước (nay thuộc tỉnh Quảng Nam), sau này sinh sống tại xã Phú Ngọc, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Mẹ là hậu phương vững chắc cho phong trào cách mạng, từng bị địch bắt giam nhưng kiên quyết không khai báo. Mẹ có chồng là liệt sĩ Trần Văn Hiếu và hai người con là liệt sĩ Trần Thị Ngộ, Trần Quốc Tế đã anh dũng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Ng

TP. Hồ Chí Minh04/07/2026Ban Biên tập tổng hợp4 lượt xem0 lượt chia sẻ
Mẹ VNAH Trương Thị Cúc - Ba nén hương giữa hai miền ký ức

Trong ngôi nhà tình nghĩa ở xã Phú Ngọc, huyện Định Quán, có một góc bàn thờ luôn nghi ngút khói hương.

Mỗi sáng sớm, người mẹ già lại lặng lẽ thắp ba nén nhang.

Một nén cho chồng.

Hai nén cho hai người con.

Đó là nghi thức Mẹ giữ suốt nhiều chục năm.

Người dân quanh vùng quen gọi Mẹ bằng cái tên thân thương:

Má Cúc.

Ít ai biết rằng phía sau dáng người nhỏ bé ấy là cả một cuộc đời được viết bằng nước mắt, lòng son sắt và niềm tin vào cách mạng.

Má Trương Thị Cúc sinh năm 1921 trên vùng đất Tiên Cẩm, Tiên Phước giàu truyền thống yêu nước.

Lấy chồng khi tuổi còn trẻ, Má nên duyên với ông Trần Văn Hiếu, một thanh niên sớm giác ngộ cách mạng.

Mùa Thu năm 1945, ông cùng quần chúng tham gia giành chính quyền.

Những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, ông là một trong những cơ sở cách mạng đầu tiên ở quê nhà.

Ban ngày làm ruộng.

Ban đêm đi gây dựng phong trào.

Còn Má ở nhà vừa nuôi con, vừa âm thầm làm hậu phương cho chồng.

Mỗi lần ông đi công tác, Má chỉ dặn:

"Việc nước quan trọng, ông cứ yên tâm. Nhà đã có tôi."

Rồi chiến tranh ngày càng ác liệt.

Địch mở nhiều cuộc càn quét, truy lùng những người hoạt động cách mạng.

Ông Trần Văn Hiếu bị bắt.

Bị giam suốt 5 năm trong nhà lao Hội An.

Ở nhà, một mình Má gồng gánh nuôi đàn con thơ.

Có hôm trong nhà chỉ còn nắm khoai luộc.

Má nhường phần cho các con.

Còn mình uống bát nước lã rồi tiếp tục ra đồng.

Điều làm Má đau lòng nhất không phải đói nghèo.

Mà là không biết người chồng trong ngục còn sống hay đã chết.

Ngày ông được trả tự do.

Cả nhà chưa kịp hưởng niềm vui đoàn tụ.

Chỉ ít hôm sau, ông lại tiếp tục bắt liên lạc với cơ sở cách mạng.

Má hiểu.

Con đường của ông chưa bao giờ dừng lại.

Vì thế, Má cũng chưa bao giờ giữ ông ở lại.

Không lâu sau, đến lượt Má bị địch bắt.

Chúng đưa Má về trại giam Tam Kỳ.

Suốt gần một tháng, địch dùng đủ cách tra khảo.

Hỏi nơi ở của cán bộ.

Hỏi đường liên lạc.

Hỏi chồng đang ở đâu.

Má chỉ lặng im.

Có lần tên chỉ huy quát:

"Khai ra thì được về với con!"

Má nhìn thẳng vào hắn rồi đáp:

"Tôi chỉ biết chồng tôi là người yêu nước."

Không moi được điều gì, cuối cùng chúng phải thả Má.

Nhưng từ đó, ngôi nhà nhỏ luôn nằm trong tầm theo dõi của địch.

Năm 1968.

Một buổi chiều.

Tiếng súng vang lên ngay gần nhà.

Ít phút sau, người con trai hớt hải chạy về.

Nước mắt giàn giụa.

Anh nghẹn ngào:

"Má ơi... ba bị tụi nó bắn rồi..."

Má ôm đứa con út mới sinh chưa bao lâu.

Chạy như không biết mệt.

Đến nơi.

Người chồng đã nằm bất động.

Ông Trần Văn Hiếu hy sinh ngay trên mảnh đất quê hương sau một trận phục kích của địch.

Má ngất lịm bên thi thể chồng.

Nỗi đau ấy biến thành ngọn lửa trong lòng các con.

Người con gái Trần Thị Ngộ gia nhập lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng.

Người con trai Trần Quốc Tế trở thành du kích xã Tiên Quang.

Trước ngày lên đường, hai chị em đều quỳ trước bàn thờ cha.

Hứa sẽ tiếp tục con đường ông còn dang dở.

Má biết.

Đó là lựa chọn không thể ngăn cản.

Má chỉ dặn:

"Nếu phải hy sinh, hãy sống sao cho xứng đáng với cha các con."

Rồi điều Má lo sợ nhất cũng đến.

Năm 1969.

Chỉ trong một năm.

Má nhận liên tiếp hai giấy báo tử.

Trần Thị Ngộ, mới 27 tuổi, hy sinh trong trận đánh quân Mỹ đổ bộ tại Phương Đông.

Chưa kịp nguôi ngoai.

Ít lâu sau.

Người con trai Trần Quốc Tế cũng ngã xuống khi chống cuộc càn của địch tại Tiên Cẩm.

Một năm.

Hai đám tang.

Người mẹ quỳ lặng trước bàn thờ.

Ba người thân yêu nhất.

Đều lần lượt ra đi.

Không ai còn trở về.

Nhưng Má không đầu hàng số phận.

Năm 1974, Má đưa các con còn lại vào Định Quán lập nghiệp.

Ở vùng đất mới, Má gặp nhiều cán bộ hoạt động tại Chiến khu Đ.

Không trực tiếp cầm súng.

Má âm thầm góp từng lon gạo.

Từng trái chuối.

Từng viên thuốc.

Gửi vào căn cứ.

Có hôm phải đi bộ hàng chục cây số chỉ để mang ít thuốc sốt rét cho bộ đội.

Các con còn nhỏ cũng theo Má giữ bí mật, cảnh giới và giúp đỡ cơ sở cách mạng.

Má thường nói:

"Nhà mình đã mất nhiều rồi. Chỉ mong đất nước sớm hòa bình."

Mùa xuân năm 1975.

Đất nước thống nhất.

Tiếng súng đã im.

Nhưng trong ngôi nhà của Má vẫn thiếu ba người.

Những ngày đầu xuân, Má đặt lên bàn thờ ba bát cơm.

Ba đôi đũa.

Rót ba chén trà.

Rồi ngồi rất lâu.

Như thể chồng và các con vẫn đang trở về sum họp.

Ngày 17 tháng 12 năm 1994, Nhà nước phong tặng Má danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.

Khi nhận tin, Má chỉ nhẹ nhàng nói:

"Danh hiệu này không phải của riêng tôi. Đây là của cha tụi nhỏ và các con tôi."

Đó là câu nói khiến nhiều người xúc động.

Bởi với Má.

Vinh quang lớn nhất không phải là danh hiệu.

Mà là được thấy đất nước hòa bình.

Những đứa trẻ lớn lên không còn nghe tiếng bom.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Mẹ VNAH Trương Thị Cúc - Ba nén hương giữa hai miền ký ức | Câu chuyện thời hoa lửa