Mẹ VNAH Võ Thị Tràng - Người mẹ tiễn sáu người thân vào bất tử
Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Võ Thị Tràng quê xã Long Phước, huyện Long Thành (nay thuộc tỉnh Đồng Nai), là một trong những người mẹ có sự hy sinh đặc biệt to lớn trong hai cuộc kháng chiến của dân tộc. Chồng Mẹ là ông Nguyễn Văn Thu, cán bộ Việt Minh xã Long Phước, bị thực dân Pháp bắt và mất tích năm 1949. Năm người con ruột của Mẹ gồm Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Văn Hà, Nguyễn Văn Nhựt, Hương Lan và Nguyễn Văn Bửu đều nối bước cha tham gia cách mạng và lần lượt anh dũng hy sinh. Hai người con dâu của

Người dân vùng Long Phước vẫn thường kể rằng, trong căn nhà nhỏ của Má Võ Thị Tràng, có những năm Tết đến mà trên bàn thờ phải thắp đến sáu nén nhang trước khi cúng tổ tiên. Một nén dành cho người chồng đã mất tích nơi chiến khu. Năm nén còn lại dành cho năm người con không bao giờ trở về. Có người hỏi sao Mẹ vẫn có thể sống tiếp sau ngần ấy mất mát. Mẹ chỉ mỉm cười hiền hậu rồi lặng lẽ nhìn về phía những hàng cao su, nơi từng in dấu chân của chồng và các con trong những ngày đầu theo cách mạng.
Má Võ Thị Tràng sinh ra trên vùng đất Long Phước hiền hòa. Cuộc đời Mẹ gắn với những vườn cao su bạt ngàn, nơi người chồng Nguyễn Văn Thu, quê gốc Hải Hưng, vào Nam làm phu "công tra" tại đồn điền Phước Hòa. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đã làm thay đổi cuộc đời người công nhân ấy. Ông tham gia Việt Minh, trở thành cán bộ của xã và dốc sức xây dựng phong trào cách mạng.
Khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược, ông rời gia đình vào căn cứ kháng chiến. Từ đó, mọi gánh nặng dồn lên đôi vai gầy của Má. Một mình người phụ nữ ấy vừa cày cấy, vừa nuôi năm đứa con còn thơ dại. Đứa lớn nhất mới mười bốn tuổi, đứa nhỏ nhất còn chưa đầy hai tuổi.
Năm 1949, trong một trận càn lớn của quân Pháp vào căn cứ, ông Nguyễn Văn Thu bị bắt. Từ ngày ấy, không ai còn gặp lại ông nữa.
Không có giấy báo tử.
Không có mộ phần.
Chỉ còn một khoảng trống kéo dài suốt phần đời còn lại của người vợ.
Có người khuyên Má nên quên đi.
Má chỉ lặng lẽ đáp:
"Ông ấy còn sống trong lòng má."
Từ nỗi đau ấy, Má bước vào con đường cách mạng. Ban ngày làm ruộng nuôi con. Ban đêm làm giao liên, chuyển thư, chuyển gạo và tiếp tế cho lực lượng kháng chiến. Những con đường rừng Long Phước đã in dấu chân người mẹ nhỏ bé nhưng gan dạ ấy suốt nhiều năm.
Đầu thập niên 1960, chính quyền Sài Gòn ráo riết lập ấp chiến lược, bắt thanh niên đi lính. Má biết rồi sẽ đến ngày các con mình phải lựa chọn.
Một buổi tối, Má gọi năm người con lại.
Nhìn từng khuôn mặt đã bắt đầu trưởng thành, Má chậm rãi nói:
"Cha các con theo cách mạng rồi không trở về. Má tin cha đã hy sinh. Nếu các con yêu cha thì hãy đi tiếp con đường của cha. Có cực khổ, có hy sinh, má cũng không hối hận."
Không ai nói gì.
Nhưng từ hôm ấy, từng người con lần lượt rời nhà.
Năm 1963, người con cả Nguyễn Văn Tuấn vào căn cứ, sau này trở thành Bí thư Chi bộ xã. Hai người em Nguyễn Văn Hà và Nguyễn Văn Nhựt gia nhập lực lượng vũ trang huyện. Người con gái Hương Lan tham gia Đoàn Văn công tỉnh, mang lời ca tiếng hát đến các chiến trường. Đến năm 1967, người con út Nguyễn Văn Bửu cũng nối bước các anh, trở thành chiến sĩ An ninh vũ trang.
Căn nhà vốn đông vui giờ chỉ còn Má, ba người con dâu và những đứa cháu nhỏ.
Cuộc sống vô cùng thiếu thốn.
Địch thường xuyên theo dõi, xét hỏi, khủng bố.
Có hôm lính kéo đến lục soát, hất tung cả chum gạo, đập vỡ nồi niêu.
Má vẫn bình tĩnh dọn dẹp rồi động viên các con dâu:
"Các con cứ yên tâm nuôi cháu. Mấy ảnh ngoài kia còn vất vả hơn."
Những lời nói giản dị ấy đã trở thành điểm tựa để cả gia đình vượt qua những năm tháng khốc liệt nhất.
Ở chiến trường, các con của Má chiến đấu rất dũng cảm. Người làm bí thư chi bộ, người làm cán bộ vũ trang, người là chiến sĩ văn công, người công tác trong lực lượng an ninh. Họ đều lập nhiều thành tích và được tặng thưởng huân, huy chương.
Nhưng chiến tranh vốn không bao giờ nhẹ tay.
Từ năm 1965 đến năm 1970, những tờ giấy báo tử liên tiếp được gửi về.
Người con này chưa kịp để tang thì người con khác lại hy sinh.
Rồi thêm một người nữa.
Và thêm một người nữa.
Đến cuối năm 1970, cả năm người con ruột của Má đều đã nằm lại trên các chiến trường.
Hai người con dâu cũng lần lượt ngã xuống trong khi làm nhiệm vụ.
Có người kể rằng, mỗi lần nghe tin dữ, Má không ngất lịm, cũng không khóc gào.
Má chỉ lặng lẽ bước đến bàn thờ, châm thêm một nén nhang.
Rồi quay ra tiếp tục công việc.
Không phải vì Mẹ không đau.
Mà bởi nỗi đau đã lớn đến mức không còn nước mắt.
Một cán bộ từng công tác với Má sau này nhớ lại:
"Chúng tôi thương Má lắm. Nhưng chưa bao giờ nghe Má than một lời. Má chỉ nhắc anh em cố gắng đánh giặc để xứng đáng với những người đã hy sinh."
Ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, người dân Long Phước đổ ra đường mừng chiến thắng.
Má cũng hòa vào dòng người ấy.
Nhưng khi trở về căn nhà nhỏ, Má vẫn thắp sáu nén hương như mọi ngày.
Có người hỏi:
"Má có tiếc không?"
Mẹ khẽ lắc đầu.
"Má chỉ tiếc là tụi nhỏ không được nhìn thấy ngày hòa bình."
Những năm sau đó, Mẹ sống giản dị giữa tình yêu thương của đồng đội, bà con và các đơn vị nhận phụng dưỡng. Nông trường Cao su Bình Sơn, chính quyền địa phương và Tổng Công ty Cao su Đồng Nai luôn xem việc chăm sóc Má là trách nhiệm và cũng là sự tri ân đối với những hy sinh quá lớn của gia đình.
Ngày 17 tháng 12 năm 1994, Nhà nước phong tặng Má danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.
Mẹ chỉ cầm tấm bằng thật lâu rồi nói:
"Danh hiệu này thuộc về cha tụi nhỏ và các con của má."
Ngày 9 tháng 6 năm 2007, Má Võ Thị Tràng thanh thản về với chồng và các con sau gần một thế kỷ sống trọn với Tổ quốc.


