MẸ...CÂU CHUYỆN VỀ MỘT ”HUYỀN THOẠI”
Giữa quảng trường lộng gió, tượng đài Người mẹ Việt Nam Anh hùng cao lớn mà lặng im. Ít ai biết rằng đằng sau phiến đá ấy là cuộc đời có thật của một người mẹ nơi vùng quê nhỏ – người đã gửi chồng, gửi con ra trận và giữ trọn niềm tin cho Tổ quốc. Đó chính là người mẹ Việt Nam Anh Hùng Nguyễn Thị Thứ. Nhắc đến mẹ là nhắc đến một biểu tượng của nỗi đau hóa thành bất khuất, để hôm nay mỗi chúng ta bước tiếp trong hòa bình mà không quên cái giá của độc lập. Người Mẹ huyền thoại Việt Nam.

MẸ...CÂU CHUYỆN VỀ MỘT ”HUYỀN THOẠI”
Giữa quảng trường lộng gió, tượng đài Người mẹ Việt Nam Anh hùng cao lớn mà lặng im. Ít ai biết rằng đằng sau phiến đá ấy là cuộc đời có thật của một người mẹ nơi vùng quê nhỏ – người đã gửi chồng, gửi con ra trận và giữ trọn niềm tin cho Tổ quốc. Đó chính là người mẹ Việt Nam Anh Hùng Nguyễn Thị Thứ. Nhắc đến mẹ là nhắc đến một biểu tượng của nỗi đau hóa thành bất khuất, để hôm nay mỗi chúng ta bước tiếp trong hòa bình mà không quên cái giá của độc lập. Người Mẹ huyền thoại Việt Nam.
Giữa miền Trung khắc nghiệt nơi mưa nắng nối nhau như thử thách ý chí con người, hiện lên một hình tượng bất tử: Nguyễn Thị Thứ – người mẹ đã dâng hiến gần như cả gia đình cho nền độc lập dân tộc. Cuộc đời mẹ không phải là trang sử được viết bằng mực, mà bằng máu của chồng, của chín người con trai, của người con rể và của hai người cháu ngoại trẻ tuổi. Trong tiếng bom xé trời và những mùa gió Lào bỏng rát, mẹ vẫn đứng thẳng như cột mốc của niềm tin, như một chứng tích sống của lòng yêu nước không điều kiện.
Nhắc đến mẹ Thứ là nhắc đến nỗi đau hóa thành sức mạnh, là nhớ về một người phụ nữ bình dị nhưng mang tâm thế của cả dân tộc trong những năm tháng khốc liệt nhất. Từ mái nhà tranh nơi Điện Bàn đến tượng đài hùng vĩ hôm nay, hành trình của mẹ là bản trường ca bi tráng về sự hy sinh, nhắc ta rằng chiến tranh qua đi nhưng phẩm giá và tinh thần của những người mẹ Việt Nam Anh hùng sẽ còn mãi với thời gian.
Từ ngàn đời qua, điều tự hào nhất với dân tộc ta là Tổ quốc anh hùng và người Mẹ Anh Hùng trong những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc. Thế hệ hôm nay được thừa hưởng hạnh phúc trong hòa bình hiểu rằng không có gì có thể đền đáp hết công lao to lớn và đức hi sinh cao cả của các Mẹ - người đã âm thầm hiến dâng những gì quý giá nhất của đời mình cho nền độc lập tự do của đất nước. Tiêu biểu cho những người Mẹ Việt Nam Anh Hùng của cả nước là mẹ Nguyễn Thị Thứ ở tỉnh Quảng Nam.
“ Con đi trăm núi ngàn khe
Không bằng muôn nỗi tái tê lòng Bầm”
Tố Hữu
Sinh ra vào những năm đầu thế kỷ XX, giữa xóm Rừng vùng đất Điện Bàn nhiều nắng gió, bà Nguyễn Thị Thứ lớn lên như bao người phụ nữ Quảng Nam khác: lam lũ, kiên cường và giàu lòng yêu nước. Cuộc đời mẹ bắt đầu bình dị, nhưng chiến tranh đã biến những năm tháng ấy thành một bản trường ca bi tráng mà không cây bút nào viết nổi nếu không có sự thật để làm nền. Mẹ sinh được mười hai người con. Khi tiếng súng kháng chiến vang lên khắp miền Trung, từng người con lần lượt khoác ba lô ra trận. Mẹ không giữ ai ở lại, chỉ dặn một câu: “Ra đi vì nước, nghe con.” Rồi chiến tranh, bằng sự khốc liệt vô thanh, lần lượt lấy đi của mẹ chín người con trai, một người con rể và cả hai đứa cháu ngoại. Mỗi lần nhận giấy báo tử, mẹ chỉ lặng người một thoáng rồi lại gượng dậy, lau nước mắt, tiếp tục sống để là điểm tựa cho những người còn lại.
Không có ngôn từ nào có thể diễn tả hết được nỗi đau trong lòng mẹ Thứ. Lần lượt các con các cháu đều ra đi hi sinh anh dũng nơi chiến trường, người con gái đầu là bà Lê Thị Trị cũng là một bà mẹ Việt Nam anh hùng được Đảng và Nhà nước phong tặng vào ngày 30/04/2007. Người thân còn lại và ở cạnh nhà mẹ Thứ. Sống cạnh mẹ Thứ lâu nhất bà Trị là người đã chứng kiến những nỗi đau vô tận mà mẹ Thứ đã gánh chịu trong đằng đẵng mấy chục năm trường. Trong lửa đạn khói bom bởi hai cuộc chiến khốc liệt bà Trị đã mất chồng và người con nhưng bà đã đè nén nỗi đau riêng để chia sẻ và làm chỗ dựa tinh thần cho mẹ Thứ trước những nỗi đau gấp bội phần hơn và luôn dồn dập đến. Nỗi đau tựa với nỗi đau bà Trị tâm sự bà có những nỗi đau riêng, chung khó tách bạch nhưng bà nhận mình là nỗi đau nhỏ nằm trong nỗi đau lớn hơn mà mẹ cứ phải chịu đựng tất cả. Khi hay tin các em hi sinh bà Trị đều giấu mẹ chọn lúc tinh thần kha khá mới tìm cách báo tin cho mẹ biết bởi sợ mẹ gục ngã. Dù sau chiến tranh nhiều người lính Mỹ và gia đình họ đã phải trải qua hội chứng chiến tranh Việt Nam thật khủng khiếp thì những phụ nữ như hai mẹ con mẹ Thứ phải chịu tận cùng nỗi đau và sự mất mát này lại dường như rất thanh thản về cuộc sống đời thường như hạt lúa củ khoai một đời chân chất với đồng đất quê nhà. Mẹ chẳng hề nuôi lòng hận thù thay vào đó là niềm vui mừng của đất nước hoà bình khi đạn bom đã ráo tạnh. Mẹ mừng vì đã qua rồi pháo dập, pháo dồn, xóm trên xóm dưới, xóm rừng xóm chay, máu loang nhà đổ, còn cuộc sống thì cơ cực. Khoai trạc khoai chiều sắn lát cõng cơm mẹ mớm mẹ đơm hết nồi hết chạn.
Những năm còn khỏe, ai đã từng đến thăm mẹ Thứ sẽ chẳng thể nào quên một người mẹ trông rất đẹp lão hiền lành, lúc nào cũng móm mém nhai trầu, kể chuyện, hát hò khoan. Cũng như mọi người phụ nữ ở khắp mọi miền đất nước, mẹ Thứ là cánh cò trong câu ca dao đất nước, nhũng cánh cò ấy phải bay qua thời lửa đạn, phải chịu cảnh nước mất nhà tan, lầm than, cơ cực, sớm giác ngộ và đi theo cách mạng, nhà mẹ Thứ đã trở thành cơ sở cách mạng, nuôi giấu những đàn con bằng những căn hầm bí mật, bằng chiếc nồi bảy nồi ba và bằng cả tấm lòng người mẹ nồng ấm, chứa chan, xây thành lũy thép. Các con mẹ theo gương anh Trỗi, anh Lời, chị Vân, chị Lý đều cất bước ra đi.
Không chỉ tiễn con ra chiến trường, mái nhà tranh của mẹ còn là nơi che chở bao cán bộ cách mạng. Trong khu vườn đầy bóng tre, mẹ đào hầm bí mật, nuôi giấu du kích trong những ngày bom đạn trút xuống như mưa. Dáng mẹ nhỏ bé thế thôi, nhưng lòng mẹ thì rộng như đất quê hương - nơi mà Tổ quốc luôn được đặt lên trên nỗi đau riêng. Mẹ sống trọn một đời vì cách mạng, để rồi khi hòa bình trở lại, mẹ ngồi trên chiếc chõng tre, mái tóc bạc trắng mà vẫn nhớ từng tên con, từng năm hy sinh. Người ta gọi mẹ bằng nhiều danh xưng đẹp đẽ, nhưng có lẽ thiêng liêng nhất vẫn là “Mẹ của những anh hùng”.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Mẹ Thứ có cả thảy 12 người con, gồm 11 trai và 1 gái. Đồng lòng đã nghe lời ru của mẹ lần lượt lớn lên, thấm đẫm từng câu ca trong nhọc nhằn mà yêu thương. Rồi đến lúc tổ quốc gọi, mẹ cứ lần lượt tiễn các con đi. Trong cùng một năm 1948, mẹ lần lượt nhận tin ba anh con trai đã hy sinh, trong đó có hai cái tang chỉ cách nhau có 10 ngày. Mỗi lần nghe tin một đứa con hy sinh, mẹ cắn răng khóc thầm. Thế rồi mẹ lại tiếp tục tiễn sáu người con còn lại lên đường đi chiến đấu. Đau đớn thay, năm trong sáu người con của mẹ lại tiếp tục nằm xuống. Mọi mong mỏi của mẹ chỉ còn dồn vào anh Lê Tự Chuyển biệt đồng thành Sài Gòn. Nhưng sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975 anh cũng đã hy sinh. Đến khi nhắm mắt năm 2010 ở tuổi 106, mẹ ra đi trong bình yên, để lại phía sau một tượng đài bằng đá và một tượng đài khác - bằng lịch sử, bằng lòng biết ơn vĩnh cửu của dân tộc Việt Nam. Cuộc đời mẹ Nguyễn Thị Thứ là minh chứng rằng có những hy sinh lặng lẽ nhưng vĩ đại, làm nên dáng đứng của đất nước trong những năm tháng đau thương nhất.
Mãi về sau, mẹ là bà mẹ Việt Nam anh hùng chịu nhiều hy sinh nhất và cũng sống lâu nhất trong gần một vạn bà mẹ anh hùng của đất nước. Thật sự chúng ta không bao giờ hiểu hết những khắc nghiệt mà mẹ đã trải qua. Những hy sinh, mất mát quá sức chịu đựng của một con người mà mẹ đã gánh chịu những nỗi đau mười bốn lần tiễn người thân ra chiến trường và mười hai người không bao giờ quay trở về nhưng vì đất nước vì cách mạng mà chấp nhận hi sinh. Không biết có nỗi đau nào hơn thế nữa. Còn có nơi đâu trên trái đất này còn có người mẹ nào như mẹ Thứ ở Quảng Nam. Vì độc lập tự do của dân tộc, mẹ đã hiến dâng cả đàn con cho đất nước. Và rồi tất cả nỗi đau đều dồn nén vào lòng mẹ.
Câu hát "chín đưa con ra đi, không một đứa trở về". Ở đâu đó lại như vọng về. Chiến tranh đã lùi xa mấy chục năm kể từ ngày non sông nối liền một dải. Trên khắp mọi nẻo làng quê, sự sống đang âm thầm nảy nở, dựng xây lại từ những tang thương mà dân tộc phải đánh đổi bằng máu và nước mắt. Thế nhưng, dẫu thời gian có trôi, những câu chuyện của một thời đạn lửa vẫn chưa bao giờ khép lại.
Hòa bình đến như một bản nhạc dịu êm, để con người lắng lòng nhớ lại những tháng năm dữ dội mà hào hùng. Bởi ở nơi gốc đa, bến nước, sân đình trong trẻo như trang ca dao ấy, vẫn còn đó bao người mẹ Việt Nam đã tiễn đứa con này nối tiếp đứa con khác ra chiến trường. Và rồi, khi đất nước yên tiếng súng, mẹ chỉ còn đứng trước khoảng trời mênh mông mà chờ đợi, bởi chẳng một bước chân nào trở về dưới mái nhà xưa.Cuộc đời của những người mẹ bình dị ấy – những con người bằng xương bằng thịt – đã hóa thành huyền thoại sống, lặng lẽ mà chói sáng, như nét đẹp không bao giờ phai của dân tộc. Là một biểu tượng vĩnh hằng của người phụ nữ Việt Nam luôn hi sinh và kiên cường trước khó khăn. Là tình mẫu tử thiêng liêng trong chiến tranh khốc liệt. Nhiều người dân xã Điện Thắng Trung vẫn nhớ từng chi tiết về gia đình mẹ Thứ. Vợ chồng mẹ cùng con gái đầu bám trụ xóm làng, vừa sản xuất, vừa đào hầm nuôi giấu cán bộ. Hằng đêm, mẹ để ngọn đèn sáng bên bàn thờ làm ám hiệu an toàn cho cán bộ, du kích đi về hoạt động. Vườn nhà mẹ rộng, có 5 căn hầm bí mật. Quanh vườn có nhiều cây xanh và cỏ, nuôi nhiều bò để ngụy trang. Lúc an toàn, mẹ Thứ và các con mở hé cửa hầm để mọi người dễ thở và khi có động thì lại giả vờ trông coi bò để chỉnh sửa, ngụy trang lại miệng hầm. Hàng trăm cán bộ, bộ đội, du kích được gia đình mẹ Thứ chở che, chăm sóc...Nuôi con cháu trong cảnh lận đận, đói nghèo nhưng khi Tổ quốc cần, mẹ Thứ động viên, tiễn các con ra chiến trường. Ngày 18-6-1948, anh Lê Tự Xuyến - chiến sĩ giao liên bị Pháp bắn tại đầu làng. Nửa tháng sau, ngày 5-10-1948, con trai Lê Tự Hàn Anh hy sinh khi làm nhiệm vụ tải thương. 10 ngày sau, con trai Lê Tự Hàn Em ngã xuống trong trận chống càn. Con trai Lê Tự Lem tròn 20 tuổi hy sinh trong lúc chiến đấu ở huyện nhà vào tháng 4-1954. Trong vòng 6 năm, mẹ Thứ mất 5 người con, đau thương dồn dập nhưng cứ khi con trưởng thành, mẹ lại động viên, tiễn con ra chiến trường. Tháng 9-1966, con trai Lê Tự Nự hy sinh. Năm 1972, anh Lê Tự Mười và anh Lê Tự Trịnh hy sinh. Năm 1974, anh Lê Tự Thịnh - Ðại đội trưởng bộ đội ở huyện Duy Xuyên hy sinh trong lần chỉ huy đơn vị đánh đồn giặc. Con trai cả Lê Tự Chuyển - chiến sĩ biệt động Sài Gòn hy sinh vào 9 giờ ngày 30-4-1975 ngay trên cầu Rạch Chiếc ở cửa ngõ vào Sài Gòn, chỉ trước vài giờ đất nước thống nhất.Con rể của mẹ là Ngô Tường (chồng của mẹ VNAH Lê Thị Trị) tham cách mạng từ thời chống Pháp, bị giặc Mỹ bắt năm 1956, bị tra tấn cho đến lúc tử vong, được công nhận là liệt sĩ. Mẹ Thứ còn 2 cháu ngoại (con gái của mẹ Trị) là Ngô Thị Điểu bị giặc Mỹ bắt tra hỏi, hy sinh tháng 8-1970 và Ngô Thị Cúc hy sinh trong lần công tác vào vùng địch hậu năm 1973.Năm 80 tuổi, mẹ Thứ mù đôi mắt, sống với con gái ở quê nhà sau đó chuyển ra Đà Nẵng sống cùng con út Lê Tự Tân cho đến khi mất ở tuổi 106 vào ngày 10-12-2010.
Nỗi đau và sự mất mát của mẹ Thứ, cũng như của biết bao Mẹ Việt Nam Anh Hùng trên dải đất hình chữ S, luôn nhắc nhở chúng ta rằng không được phép quên những hy sinh, những giọt máu và cả tuổi xuân mà các anh hùng liệt sĩ cùng những người mẹ bất tử đã dâng hiến cho Tổ quốc.Tượng đài Mẹ là nơi gửi gắm khát vọng ngàn đời của những người mẹ Việt Nam – khát vọng hòa bình, an yên cho từng mái nhà, từng đứa con, từng thế hệ mai sau. Ước vọng của mẹ cũng chính là ước vọng mùa xuân vĩnh hằng mà nhân loại luôn hướng tới.Mẹ nối dài nghĩa tình của đất nước, mái tóc mẹ buông theo dòng Thu Bồn xanh biếc như trải ra vầng sóng dịu kỳ, hóa thành khúc hát ru ngàn đời của quê hương, của lòng mẹ mênh mông.
Nói về sự hy sinh của Mẹ Nguyễn Thị Thứ, không bút mực nào tả hết. Năm 1998, khi một cựu chiến binh Hàn Quốc hỏi vì sao đã mất nhiều con mà Mẹ vẫn động viên những người con khác ra trận, Mẹ chỉ điềm tĩnh đáp: “Cụ Hồ dạy không có gì quý hơn độc lập tự do, nên các con, các cháu tôi đều sẵn sàng chiến đấu để giành lấy độc lập, tự do ấy.” Câu nói giản dị mà kiên cường ấy khiến người cựu binh rưng rưng nước mắt—và làm sáng lên biểu tượng bất khuất của người mẹ Việt Nam anh hùng.
Năm 1994, Mẹ Nguyễn Thị Thứ được Nhà nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng trong đợt đầu tiên cùng hàng chục nghìn bà mẹ đã cống hiến xương máu cho Tổ quốc. Để tri ân công lao ấy, đến năm 2004, chủ trương xây dựng một quần thể tưởng niệm mang tầm quốc gia được thông qua. Công trình đặt tại núi Cấm (Tam Kỳ, Quảng Nam), khởi công năm 2009 và hoàn thành vào năm 2015, trở thành tượng đài Mẹ Việt Nam anh hùng lớn nhất cả nước. Tượng đài lấy hình mẫu từ chính Mẹ Thứ với ý tưởng tôn vinh người mẹ như nguồn cội bao la của dân tộc—người đã sinh ra những người con anh hùng và rồi lại hòa mình vào non nước Việt Nam. Hình tượng Mẹ vì thế trở thành ngọn lửa bất diệt, tiếp thêm sức mạnh cho bao thế hệ trên hành trình dựng xây và bảo vệ đất nước.
Có một chân lý giản dị nhưng sâu sắc mà bao thế hệ con người vẫn luôn khắc ghi: nếu quên đi quá khứ, ta sẽ không thể có hiện tại và tương lai. Câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn” của cha ông ta chính là lời nhắc nhở thiêng liêng về đạo lý ấy. Dẫu người đã đi xa, câu chuyện về cuộc đời mẹ vẫn sáng lên như ngọn lửa nhỏ giữa trời quê, sưởi ấm lòng những người con của Tổ quốc kiên cường hôm nay và ghi nhớ không bao giờ quên ơn những người đã ngã xuống cho Tổ quốc. Nguồn: Sưu tầm


