Khác

Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh

Sinh trưởng ở một vùng quê giàu truyền thống yêu nước và đấu tranh chống ngoại xâm, lớp thanh niên chúng tôi ngày ấy được đắm mình trong hào khí Cần Vương hừng hực kháng Pháp của ông cha thuở trước. Nợ nước, thù nhà đã khiến tôi “xếp bút nghiên” lên đường và trở thành chiến sĩ của Trung đoàn 18, về sau là Trung đoàn 101 - Trần Cao Vân, thuộc Đại đoàn 325 danh tiếng. Được trui rèn qua những trận đánh khốc liệt, những chiến dịch hết sức cam go trên chiến trường Bình Trị Thiên khói lửa, chiến trườ

07/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Quê tôi ở làng Thọ Linh Thượng, tổng Thuận Thị, phủ Quảng Trạch, nay là thôn Thọ Linh, xã Quảng Sơn, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Tôi được sinh vào ngày 15 tháng 4 năm 1930, nhằm ngày 17 tháng 3 năm Canh Ngọ. Vậy nhưng khi tôi bắt đầu cắp sách đi học, không hiểu ai đã ghi ngày sinh là 15 tháng 4 năm 1931, chắc là có sự nhầm lẫn, bởi bác tôi, bà Mai Thị Nha khẳng định tôi sinh năm Canh Ngọ.

Cha tôi tên là Mai Xuân Húc (1901-1977) con trai trưởng của ông Mai Xuân Đóa (1871-1946) và bà Phan Thị Phờn (1880-1944). Mẹ tôi, bà Trần Thị Chạt (1904-1947) là con gái út của ông Trần Đình Phấn (1863-1947) và bà Phạm Thị Oanh (1864-1927). Ông bà ngoại tôi đều là người cùng quê. Mẹ tôi bảy lần sinh con (có hai lần sinh đôi) nhưng chỉ nuôi lớn được năm người: anh Mai Xuân Thia (1923-1980) và tôi, Mai Xuân Vĩnh rồi đến các em gái Mai Thị Liên (1935), Mai Thị Mẫn (1940), Mai Thị Me (1944), Mai Thị Quy (1946-1947). Còn các em khác mất khi chưa đầy tháng.

Mẹ kế tôi là bà Trần Thị Nhỏ (1913-1983) là con gái thứ hai của ông Trần Ngọc Tía và bà Đinh Thị Nga, người cùng quê. Bà sinh được ba người em là: Mai Xuân Quế (1950), Mai Thị Hoa (1953-1964), Mai Thị Thơm (1956).

Thủy tổ dòng họ Mai ở làng Thọ Linh của tôi là cụ Mai Phúc Khánh, quê gốc ở xã Trung Thanh Oai, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên, đạo Sơn Nam (xã Kiến Hưng, thị xã Hà Đông, Hà Tây, nay thuộc Hà Nội), ông là người thông minh, hiểu biết rộng, tính tình cương trực, có chí lớn. Dưới thời vua Lê Thái Tông (1460-1497) ông được triều đình giao cầm đầu một đạo quân vào Nam đánh dẹp quân phiến loạn Chămpa ở Ô Châu (nam Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế ngày nay).

Vâng mệnh triều đình, ông lo rèn tập quân binh, tích cực chuẩn bị quân lương và khí giới, thực hiện cuộc trường chinh hàng nghìn dặm, vượt qua nhiều vùng miền bây giờ còn chưa kịp khai phá. Với công trạng đánh dẹp quân giặc, vỗ về yên dân, ông Mai Phúc Khánh được vua phong tước “Tham Nghị Trác Lộc Nam”. Sau khi giành thắng lợi, triều đình cho ông lui quân về Bắc. Khi hành quân ra đến tây nam huyện Quảng Trạch, Quảng Bình ngày nay, thấy vùng đất dưới chân núi Ngùi bên dòng sông Rào Nan (một nhánh của sông Gianh) phong cảnh sơn thủy hữu tình, địa thổ phì nhiêu chưa có ai khai phá, ông bèn vận động thân binh tùy thuộc (được triều đình cho phép) ở lại đây khai phá thành ruộng vườn, định cư lập nghiệp lâu dài.

Ông Mai Phúc Khánh đề xuất, phương án định hướng “Kiến dĩ Ngùi sơn phát tích” (xuất phát từ núi Ngùi sẽ làm nên sự tích), vạch kế cho dân làm ăn. Vào khoảng năm 1473, sau một thời gian khai phá, sản xuất có kết quả, nơi ăn chốn ở ổn định, ông đề xuất và được người dân đồng tình lập ấp, đặt tên làng là Kim Linh. Như vậy, họ Mai là một trong những dòng họ có công đầu khai sơn phá thạch lập nghiệp ở vùng đất này.

Đến đời vua Minh Mạng năm thứ tư (1823) thấy tên làng mang chữ Kim là phạm húy Đức Thủy tổ Cao hoàng nhà Nguyễn (Nguyễn Kim) nên buộc làng Kim Linh phải đổi tên thành Thọ Linh (tên làng Kim Linh, Thọ Linh tồn tại đến nay trên 530 năm).

Ông thủy tổ Mai Phúc Khánh sinh và mất vào khoảng năm 1440-1504. Mộ ông hiện được an táng tại nghĩa trang dòng họ Mai ở Hà Sơn, Thọ Linh, xã Quảng Sơn, Quảng Trạch, Quảng Bình.

Hơn 400 năm sau khi ông Mai Phúc Khánh qua đời, vua Khải Định (1916-1925) xét thấy công lao của ông ngay từ buổi đầu khai khẩn, đặt nền móng lập làng xã, tạo cuộc sống cho dân bền vững và phát triển nên đã truy phong cho ông tước “Đại lang Dực bảo Trung hưng, Trung đẳng Linh phù Tôn thần”.

Tôi thuộc hàng hậu duệ đời thứ 15 của dòng họ Mai và là chắt nội của ông Mai Lượng (1838-1890) tục gọi Lãnh Mai (đời thứ 12). Xuất thân trong một gia đình nhà Nho nghèo có truyền thống hiếu học, mặc dù sớm mồ côi cả cha lẫn mẹ, nhưng ông Mai Lượng được người anh ruột là Mai Thức nuôi dạy và cho ăn học. Là người có tư chất thông minh, lại giàu ý chí và nghị lực, nên từ thuở thiếu thời, ông đã được nhiều người yêu mến.

Cùng với việc dùi mài kinh sử, ông Mai Lượng thường xuyên luyện tập võ nghệ cùng trai tráng trong làng. Trong khoa thi Hội võ năm Ất Sửu (1865), dưới triều vua Tự Đức, ông đỗ Cử nhân võ và được triều đình sung vào quân ngũ, được phong chức Hiệp quản. Ông Mai Lượng được bổ dụng chỉ huy một đơn vị trấn giữ ở Đèo Ngang. Tại đây, ngoài việc quân cơ, ông còn vỗ về dân chúng, chăm lo giúp dân khai hoang, đào kênh dẫn nước vào ruộng. Người dân trong vùng rất cảm phục và ghi nhớ công ơn của ông Lãnh Mai.

Sau đó, ông Mai Lượng được cử vào Đồng Hới để chỉ huy quân triều đình tại Quảng Bình. Khi phái chủ hòa hèn nhát trong triều đình Huế ký hiệp ước đầu hàng giặc Pháp (Hiệp ước Patenotre, 6-6-1884), với tinh thần yêu nước và ý thức độc lập dân tộc, ông vô cùng căm phẫn hành động xâm lược của thực dân Pháp và thái độ đầu hàng bán nước của triều đình. Với bản tính cương trực, ông chán ngấy trước thời cuộc nên đã từ quan về quê ở ẩn, kiên quyết bất hợp tác với những kẻ cam tâm bán nước cho ngoại bang.

Sau “sự biến kinh thành Huế”, ngày 23 tháng 5 năm Ất Dậu 1885, vua Hàm Nghi xuất bôn ra sơn phòng Tân Sở, Quảng Trị, xuống chiếu Cần Vương, kêu gọi nhân dân đứng lên chống thực dân Pháp, cứu nước. Khi xa giá vua Hàm Nghi ra đến Quảng Bình, sẵn nung nấu lòng căm thù giặc, ông Mai Lượng đã đến yết kiến Sơn Triều (triều đình vua Hàm Nghi). Vốn là một võ quan của triều đình Huế, ông được vua Hàm Nghi phong chức Lãnh binh, sát cánh với những người khác phò tá nhà vua chống giặc. Từ đó, nhân dân trong vùng thường gọi tên ông là Lãnh Mai.

Nhận lãnh sứ mệnh của Sơn Triều giao phó, ông trở về quê nhà chiêu mộ dân binh và nghĩa dũng, tập hợp lực lượng kháng chiến tại địa bàn thuộc hữu ngạn sông Gianh. Căn cứ của nghĩa quân Mai Lượng trải dài từ Cao Mại, thượng nguồn sông Rào Nan (nay thuộc xã Cao Quảng, huyện Tuyên Hóa) đến vùng Troóc (vùng núi phía tây huyện Bố Trạch, nay thuộc xã Phúc Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình).

Nghĩa quân Mai Lượng có đến hàng ngàn người, được tổ chức thành đội ngũ chặt chẽ, phối hợp với nghĩa quân của Nguyễn Phạm Tuân, Lê Trực, ông Tham La Hà,... tạo thành một phong trào kháng chiến rộng lớn trên đất Quảng Bình. Địa bàn hoạt động và kiểm soát của nghĩa quân trải rộng vùng giáp ranh ba huyện: Quảng Trạch, Bố Trạch, Tuyên Hóa của tỉnh Quảng Bình. Nghĩa quân Mai Lượng thường sử dụng lối đánh du kích, phục kích, khi xung trận thì rất dũng mãnh và mưu trí. Dưới sự chỉ huy của Lãnh Mai, nghĩa quân đánh thắng nhiều trận, gây cho giặc Pháp nhiều tổn thất và khiến chúng khiếp sợ.

Tại căn cứ, ông vừa luyện quân, vừa rèn đúc vũ khí kết hợp tăng gia sản xuất lương thực để chiến đấu lâu dài. Đến nay, ở vùng núi Cây Chanh - Cao Mại vẫn còn lưu lại dấu tích đồn trại, dấu tích lò rèn đúc vũ khí và những cây chè, cây mít đại thụ.

Sau khi vua Hàm Nghi bị giặc bắt (1-11-1888), mặc dù “lãnh tụ tinh thần” không còn nữa, trong thế bị địch dồn ép, bao vây cô lập, gặp muôn vàn khó khăn, nhưng nghĩa quân Mai Lượng vẫn không nản chí, vẫn tiếp tục chiến đấu đến cùng.

Giữa lúc nghĩa quân đang dồn sức chống lại sự tấn công của địch thì ngày 12 tháng 5 năm 1890 (tức 24-3 năm Canh Dần) Lãnh Mai mất vì bệnh sốt rét ác tính tại căn cứ Cao Mại, lúc vừa tròn 53 tuổi. Thi hài ông được nghĩa quân mai táng rất kín trong rừng để tránh sự trả thù của giặc. Sau này hài cốt của ông được gia đình và bà con đưa về an táng tại quê nhà.

Tuy Lãnh binh Mai Lượng qua đời cùng với việc nghĩa quân tan rã, nhưng ý chí kiên cường chống giặc cứu nước và lòng yêu nước thương nòi của ông đã để lại trong lịch sử dân tộc một tình cảm, một nét son sâu đậm. Nhiều tác phẩm thơ ca, hò vè, cùng một số công trình nghiên cứu lịch sử đã chủ tâm ghi lại cuộc đời chiến đấu bi hùng của ông.

Lăng mộ ông Mai Lượng tại khu vực Sủm Mặc (Hà Sơn) nằm bên hữu ngạn sông Rào Nan, đã được Nhà nước tôn tạo. Riêng nhà bia tưởng niệm Lãnh binh Mai Lượng được đặt trên nền nhà xưa, nơi ông được sinh ra và lớn lên tại làng Thọ Linh, xã Quảng Sơn, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Do có nhiều công lao đối với đất nước, mộ ông Mai Lượng được Bộ Văn hóa - Thông tin cấp bằng công nhận “Di tích Lịch sử - Văn hóa” cấp quốc gia ngày 24 tháng 1 năm 1998.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn