Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh Phần 4
Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh Phần 4
Chương bốn
THỜI HOA ĐỎ
Tháng 8 năm 1973, tôi được cử đi học ở Học viện Hải quân Liên xô, đào tạo cấp chiến thuật chiến dịch tại thành phố Lêningờrát (nay là thành phố Xanh Pêtécbua). Trong đoàn đi học lần này có đồng chí Huỳnh Kim - Phó tư lệnh Quân chủng, đồng chí Nguyễn Dưỡng - Tham mưu trưởng Quân chủng, đồng chí Phan Khắc Thứ - Chủ nhiệm Chính trị và một số đồng chí chỉ huy các đơn vị cùng một số đồng chí là trưởng phòng thuộc Bộ tham mưu Quân chủng Hải quân. Các đồng chí Viễn, Cổ là cán bộ từ Quân chủng Phòng không - Không quân chuyển về công tác ở Hải quân cũng cùng đi học trong đợt này.
Gần 10 năm sau khi kết thúc học đào tạo sĩ quan chỉ huy hải quân, hôm nay được trên cử đi học lớp chiến thuật chiến dịch, có điều kiện để nâng cao trình độ cán bộ chỉ huy Hải quân. Được học một nội dung, chương trình chất lượng cao với những giáo viên giàu kinh nghiệm giảng dạy của Học viện Hải quân Liên Xô, một nước có lực lượng hải quân tiên tiến vào bậc nhất, nhì thế giới, vì vậy mà đã giúp cho chúng tôi không những nắm được chiến thuật của từng binh chủng của Hải quân như tàu mặt nước, tàu ngầm, tên lửa, pháo binh bờ biển, hải quân đánh bộ, máy bay hải quân, tác chiến điện tử... với sử dụng binh khí kỹ thuật hiện đại, mà còn hiểu biết về tổ chức hiệp đồng chiến đấu giữa các binh chủng, nhất là công tác tham mưu chiến dịch hải quân. Kết thúc lớp học tôi đạt được kết quả loại giỏi.
Trong những tháng cuối của kỳ học, tin dồn dập về chiến thắng trên chiến trường miền Nam khiến anh em chúng tôi vô cùng phấn khởi. Phấn khởi bao nhiêu thì tâm trạng cũng sốt ruột bấy nhiêu, ước gì được kết thúc lớp học ngay bây giờ để về nước tiếp tục tham gia chiến đấu giải phóng miền Nam trong lúc này. Thế nhưng không có tình huống đó xảy ra, mà điều duy nhất là phải đạt được kết quả học tập tốt để phục vụ lâu dài trong quân đội.
Sau khi kết thúc khóa học, tôi trở về nhận nhiệm vụ Phó phòng Tác chiến Hải quân. Đến tháng 10 năm 1976, tôi được bổ nhiệm Trưởng phòng Tác chiến Bộ tham mưu Quân chủng Hải quân. Ngay khi nhận nhiệm vụ Phó trưởng phòng Tác chiến ở Bộ tham mưu Hải quân, tôi khẩn trương bắt tay vào công tác ngay.
Vào thời gian này, miền Nam mới vừa được giải phóng, lực lượng hải quân được triển khai rộng khắp trên cả nước, là sự đột biến lớn cả về nhiệm vụ cũng như phát triển lực lượng của Quân chủng Hải quân, là bước ngoặt của lịch sử Hải quân Việt Nam. Vì vậy, đi đôi với củng cố tổ chức lực lượng, phải khẩn trương xây dựng kế hoạch tác chiến bảo vệ biển, đảo trước mắt cũng như lâu dài. Cơ quan tác chiến phải làm việc với một cường độ lớn để đáp ứng phục vụ lãnh đạo, chỉ huy của Quân chủng về kế hoạch tác chiến, huấn luyện trong tình hình mới, không những chung của hải quân mà đặc biệt kiểm tra hướng dẫn các đơn vị triển khai ở các địa bàn mới được giải phóng thực hiện đúng ý định, quyết tâm và kế hoạch chiến đấu bảo vệ biển, đảo của Bộ tư lệnh Quân chủng.
Năm 1976, lần đầu tiên sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, cán bộ chỉ huy hải quân thực hiện một cuộc khảo sát tình hình biển đảo vùng mới giải phóng do Thiếu tướng Tư lệnh Nguyễn Bá Phát và Thiếu tướng Chính ủy Hoàng Trà dẫn đầu cùng một số cán bộ cơ quan của Quân chủng và cán bộ Hạm đội 171. Cuộc hành trình đường biển này sử dụng các tàu khu trục HQ-01 và HQ-03 là những tàu chiến lợi phẩm vừa thu được của địch khi giải phóng miền Nam. Xuất phát từ Quân cảng Sài Gòn, đoàn lần lượt qua quần đảo Ba-lụa, Hải tặc; các đảo Phú Quốc, Thổ Chu, Nam Du, Hòn Chuối, Hòn Khoai ở vùng biển Tây Nam, Hòn Trứng, Côn Đảo, Hòn Hải, Cù Lao Thu, bán đảo Phước Mai, Lý Sơn, Cù Lao Chàm, Sơn Trà (Đà Nẵng) ở vùng biển phía đông và đông nam với hải trình dài hàng nghìn hải lý.
Quán triệt ý định của Tư lệnh Quân chủng cơ quan tác chiến chủ trì lập kế hoạch hành trình khảo sát này thông qua Bộ tư lệnh Quân chủng. Thực ra lần đầu tiên đi trên vùng biển đảo mới được giải phóng nên kế hoạch hành trình cũng chỉ dựa theo số liệu hải đồ chung, chứ chưa thể chi tiết, khi vào vùng nước của từng đảo. Tôi và một số cán bộ cơ quan tác chiến cùng đi với nhiệm vụ làm công tác tham mưu tác chiến phục vụ chuyến hành trình này.
Một chuyến đi biển dài ngày không đơn thuần khảo sát biển mà còn khảo sát địa hình các đảo và gặp thăm cơ sở Đảng, chính quyền và bộ đội ta mới triển khai làm nhiệm vụ ở vùng mới giải phóng. Vì vậy thời gian hành trình phải điều chỉnh từng ngày cho phù hợp với diễn tiến công việc thực tế. Chuyến đi khảo sát này được coi như chuyến đi lịch sử vì nó được thực hiện ngay sau ngày miền Nam được giải phóng có đầy đủ lãnh đạo, chỉ huy và các cơ quan của Quân chủng tham gia.
Ta sử dụng hai tàu chiến lợi phẩm, đồng thời còn sử dụng một số nhân viên kỹ thuật quân ngụy đảm nhiệm vận hành các thiết bị ở trên tàu mà chúng ta chưa kịp có người thay thế. Chúng tôi, những cán bộ tham mưu tác chiến có dịp khái quát thực tế tình hình một vùng biển rộng lớn ở miền Nam đất nước, rất thiết thực bổ ích cho nghiệp vụ chuyên môn của mình. Nói chung công tác kế hoạch tham mưu tác chiến phục vụ cho chuyến đi này có kết quả tốt. Thế nhưng có một tình huống hay có thể nói là một sự cố diễn ra suýt nữa mất an toàn là khi biên đội tàu đi qua eo biển Gành Rái, phía bắc đảo Phú Quốc đột nhiên bị pháo bờ bắn, nhiều quả đạn nổ cách tàu trên dưới 50m. Quan sát kịp thời phát hiện là đạn bắn từ bờ bắc đảo Phú Quốc. Chính là pháo của Trung đoàn 101, đơn vị phòng thủ đảo Phú Quốc thuộc Quân khu 9 vừa mới được Bộ Tổng tham mưu điều chuyển về trực thuộc Quân chủng Hải quân từ ngày 30 tháng 12 năm 1975 và đầu năm 1976 chuyển về trực thuộc Vùng 5 hải quân.
Ngay lập tức, chỉ huy sở tại tàu gọi Trung đoàn 101 lệnh cho pháo ngừng bắn. Trước đó về kế hoạch tham mưu đã có thông báo kế hoạch đi qua khu vực này cho Vùng 5 cũng như Trung đoàn 101 để theo dõi bảo đảm an toàn. Nhưng chỉ huy Trung đoàn 101 không có thông báo cụ thể cho các đơn vị của mình nên mới xảy ra như vậy. May mà kỹ thuật bắn pháo kém nếu không, đạn trúng tàu thì cơ sự sẽ nguy hiểm biết chừng nào. Qua sự việc này tự kiểm điểm, chúng tôi thấy công tác tham mưu của mình có khuyết điểm là vạch kế hoạch nhưng thiếu kiểm tra việc tổ chức thực hiện của đơn vị, một bài học lớn cho những người làm công tác tham mưu tác chiến như chúng tôi.
Trước tình hình bọn phản động ở Campuchia (K) liên tục xâm phạm đánh phá vào lãnh thổ của Việt Nam ta, ngày 31 tháng 12 năm 1977, Chính phủ ta ra tuyên bố: “Do phía Campuchia liên tục xâm phạm lãnh thổ Việt Nam, nhân dân và lực lượng vũ trang Việt Nam ở vùng biên giới buộc phải chiến đấu tự vệ bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ, tính mạng và cuộc sống bình yên của mình...”.
Sau ngày miền Nam vừa mới được giải phóng biết bao công việc bề bộn và hết sức nặng nề của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta để ổn định tình hình xây dựng đất nước, bảo vệ thành quả cách mạng mới bắt đầu triển khai thực tế thì ở biên giới Tây Nam bọn phản động Campuchia: Pôn Pốt - Iêng Xari lại gây ra tình hình hết sức căng thẳng. Ngay trong tháng 5 năm 1975, chúng đã xua quân tấn công đảo Phú Quốc (3-5-1975); nổ súng khiêu khích ở biên giới đất liền (8-5-1975); đánh chiếm đảo Thổ Chu, tàn sát và bắt đi 500 dân thường Việt Nam (10-5-1975), và tiếp thời gian sau đó, tình hình hoạt động phá hoại, khiêu khích do chúng gây ra ở biển đảo Tây Nam ngày càng căng thẳng, như xua quân tập kích vào tuyến biên giới ở An Giang, Hồng Ngự, Đồng Tháp, Hà Tiên, Tịnh Biên, Châu Đốc.
Trên biển từ tháng 2 năm 1977, bọn phản động K cho tàu chiến xâm phạm trắng trợn vùng biển của ta ở khu vực phía bắc đảo Phú Quốc, Hòn Đốc... bắt giết ngư dân của ta; dùng pháo từ các đảo Kiến Vàng, Keo Ngựa, Tre Mắm bắn vào đảo Hòn Đốc của ta. Ngày 23 tháng 5 năm 1977, Bộ Quốc phòng chỉ thị cho các lực lượng phía Nam kiên quyết bảo vệ lãnh thổ của ta, không dung thứ bất cứ sự xâm lấn nào của lực lượng khiêu khích, phản động K vào lãnh thổ ta, đồng thời ta tôn trọng chủ quyền lãnh thổ của K. Ngày 11 tháng 6 năm 1977, Bộ Tổng tham mưu có chỉ thị về sẵn sàng chiến đấu đối với lực lượng thường trực.
Ngày 16 tháng 6 năm 1977, Bộ tư lệnh Quân chủng chỉ thị Vùng 5 hải quân tăng cường triển khai bố trí lực lượng bảo vệ vùng biển và phòng thủ các đảo Phú Quốc, Thổ Chu, Hòn Đốc... nơi hải quân đang đóng giữ. Hiệp đồng với các đơn vị bạn kiên quyết trừng trị mọi hoạt động xâm nhập phá hoại, lấn chiếm của tàu K trên vùng biển của ta. Đồng thời lệnh điều một tiểu đoàn hải quân đánh bộ ra Phú Quốc để phối hợp với Vùng 5 bảo vệ biển đảo ở vùng biển Tây Nam.
Ngày 6 tháng 12 năm 1977, đoàn cán bộ của Quân chủng do Tư lệnh Giáp Văn Cương dẫn đầu đi kiểm tra tình hình sẵn sàng chiến đấu ở Hòn Đốc. Là trưởng phòng Tác chiến của Quân chủng, tôi cũng đi trong đoàn này. Sáng sớm, khi hai trực thăng Mi-8 chở đoàn vừa hạ cánh xuống trên đỉnh đảo Hòn Đốc, thì pháo cối của bọn phản động K từ đảo Keo Ngựa bắn sang tới tấp, có quả đạn nổ gần máy bay đang đậu. Tưởng chúng chỉ bắn khiêu khích, nhưng không, chúng bắn liên tiếp. Sợ hỏng máy bay, đồng chí Cương lệnh cho hai chiếc trực thăng rời đảo về căn cứ dù chúng bắn nhiều, nhưng ta vẫn kiềm chế không phản pháo ngay, tránh để lộ trận địa pháo, nhưng chúng không dừng, buộc ta phải đánh trả. Đồng chí Cương bảo tôi chuyển lệnh cho pháo đảo của ta bắn diệt các vị trí pháo của địch. Cả đại đội pháo 85mm của ta đồng loạt nổ súng, sau những phút cầm cự yếu ớt, pháo địch bị diệt, im bặt. Qua đây thấy rõ tính chất điên cuồng hiếu chiến của bọn phản động Pôn Pốt - Iêng Xari.
Năm 1978, tình hình biên giới phía Bắc và biên giới Tây Nam hết sức căng thẳng, ở biên giới đất liền và vùng biển Tây Nam, bọn phản động Pôn Pốt - Iêng Xari ráo riết hoạt động phá hoại khiêu khích mà đỉnh cao nhất là chúng đã xua quân tiến công xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới, tàn sát dã man đồng bào ta.
Thực hiện chỉ thị của cấp trên, Bộ tư lệnh Hải quân chủ trương: Tập trung lực lượng của Quân chủng vừa chuẩn bị tốt ở hướng bắc, hướng đông, vừa kiện toàn củng cố các đơn vị phía Nam, khẩn trương chuẩn bị tốt cơ sở vật chất, vũ khí, phương tiện chiến đấu, nâng cao chất lượng sẵn sàng chiến đấu mọi mặt của bộ đội quyết tâm giành thắng lợi khi xảy ra chiến sự.
Để phục vụ công tác sẵn sàng chiến đấu của Quân chủng, cơ quan tác chiến của Quân chủng, thực hiện chỉ thị của Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân chủng mà trực tiếp là sự chỉ đạo của Tư lệnh và Tham mưu trưởng, tiến hành làm các kế hoạch tác chiến tiến công đổ bộ bằng đường biển và chống địch đổ bộ đường biển, kế hoạch phòng thủ, bảo vệ chủ quyền vùng biển và các đảo...
Tiếp theo là làm kế hoạch huấn luyện diễn tập nâng cao trình độ kỹ chiến thuật tác chiến của bộ đội, cũng như qua thực tế, Quân chủng sẽ điều chỉnh bố trí lực lượng chiến đấu phù hợp từng khu vực.
Trước tình hình rất khẩn trương đó, đất nước sau chiến tranh còn gặp nhiều khó khăn về cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như sinh hoạt, nhưng vẫn phải tổ chức các cuộc diễn tập của bộ đội rất tốn kém để nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu kịp thời cùng các quân binh chủng chống mọi tấn công của địch. Phòng tác chiến là cơ quan trung tâm làm tham mưu kế hoạch tổ chức các cuộc diễn tập theo chủ trương và ý định của Bộ tư lệnh Quân chủng. Một vấn đề lớn là làm tham mưu kế hoạch sao cho phù hợp sát với yêu cầu vừa phòng thủ tốt tại chỗ, vừa sẵn sàng tấn công địch trong mọi trường hợp. Do yêu cầu khẩn trương của tình hình nên tôi cùng anh em trong phòng tác chiến làm việc không quản ngày, đêm để đáp ứng với sự chỉ đạo của Bộ tư lệnh Quân chủng. Các cuộc diễn tập phòng thủ các đảo Phú Quốc, Hòn Đốc; diễn tập đánh chiếm lại đảo khi bị địch chiếm gồm nhiều lực lượng tàu, hải quân đánh bộ, lực lượng phòng thủ đảo... tham gia được diễn ra ở vùng biển Tây Nam, suốt từ giữa năm 1977 đến đầu năm 1978. Cơ quan tác chiến đã cùng hiệp đồng với các cơ quan khác của Quân chủng phục vụ có kết quả tốt theo yêu cầu sẵn sàng chiến đấu.
Sang năm 1978, khi bọn phản động Pôn Pốt - Iêng Xari đem quân tấn công xâm lược giết hại đồng bào ta ở biên giới đất liền ngày một leo thang, thì trên vùng biển Tây Nam chúng đem tàu thuyền chiến xâm nhập vào vùng biển của ta hoạt động khiêu khích, bắt và bắn giết ngư dân ta, nhất là ở khu vực biển Phú Quốc, Hòn Đốc gây nên tình hình rất căng thẳng. Trên cơ sở kế hoạch bảo vệ vùng biển đảo đã được xây dựng, lực lượng tàu của Hạm đội 171, Vùng 5 và lực lượng phòng thủ đảo đã nhiều lần chặn đánh diệt nhiều tàu của bọn phản động Campuchia xâm nhập quấy phá ở vùng biển của ta.
Qua những lần đầu chặn đánh tàu địch, tôi và anh em ở phòng tác chiến của Quân chủng cùng cán bộ Vùng 5 và Hạm đội 171, trực tiếp cùng cán bộ chỉ huy tàu kịp thời tổ chức kiểm điểm rút kinh nghiệm về thủ đoạn hoạt động liều lĩnh của địch và kỹ chiến thuật chiến đấu của ta phục vụ cho sự chỉ đạo tác chiến của Bộ tư lệnh Quân chủng trong việc bảo vệ vững chắc vùng biển đảo ở khu vực biển Tây Nam. Trong tháng 4 và 5 năm 1978, các tàu chiến đấu của Vung 5 và Hạm đội 171 đã chặn đánh và bắn chìm 12 tàu của bọn phản động Pôn Pốt - Iêng Xari, khi chúng lợi dụng đêm tối xâm nhập bắn phá sâu vào vùng biển của ta.
Trong thời điểm rất khẩn trương, song song với việc chống tàu địch xâm nhập quấy phá trên vùng biển Tây Nam, dưới sự chỉ đạo của Bộ tư lệnh Quân chủng, cơ quan tác chiến của Quân chủng đã cùng với các cơ quan khác trong Bộ tham mưu và các Cục khác, giúp Vùng 5 làm kế hoạch tăng cường khả năng phòng thủ ở các đảo Phú Quốc, Hòn Đốc, Thổ Chu, trong đó có việc tăng cường bố trí lực lượng pháo 130mm, 105mm, 85mm và pháo cao xạ 37mm trên các đảo. Rất gần với các đảo của địch, do đó việc đưa pháo vào trận địa không có bến cặp tàu và đường kéo pháo làm sẵn, có nơi là rừng như ở đảo Phú Quốc, lại phải tiến hành vào ban đêm để giữ bí mật nên gặp rất nhiều khó khăn, tốn nhiều thời gian và công sức.
Tôi nhớ khi đưa pháo 130mm của Tiểu đoàn 21 do đồng chí Kính làm tiểu đoàn trưởng vào Gành Dầu, bắc đảo Phú Quốc, tiến hành suốt cả đêm đến sáng mà pháo chưa được kéo hết vào các trận địa vì phải vượt qua đường nhiều gốc cây và đất lún. Trong những lúc này không chỉ chúng tôi là cơ quan tác chiến và chỉ huy trưởng Vùng 5 như đồng chí Nguyễn Dưỡng phải theo sát đơn vị mà ngay cả Tư lệnh Giáp Văn Cương cũng theo sát trực tiếp chỉ đạo đơn vị thực hiện kế hoạch kéo pháo vào trận địa. Cán bộ, chiến sĩ quên cả mệt nhọc, ai cũng biểu lộ vui vẻ, phấn khởi khi hoàn thành được nhiệm vụ.
Kế hoạch tăng cường lực lượng Vùng 5 đã đạt được như: có Hải đoàn tàu 127 (đến tháng 12-1979 là Lữ đoàn tàu 127) mới thành lập, Trung đoàn bộ binh 101 được nâng lên thành lữ đoàn, có các tiểu đoàn phòng thủ ở các đảo Hòn Đốc, Thổ Chu... Đến lúc này sức chiến đấu bảo vệ biển đảo của Vùng 5 hải quân ở khu vực biển Tây Nam đã được tăng lên nhiều. Các đơn vị của Vùng 5 đã chuyển vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao, làm nòng cốt phối hợp với các lực lượng bảo vệ vững chắc vùng biển đảo của tổ quốc.
Thời gian này tình hình biên giới Tây Nam nóng lên từng ngày. Pôn Pốt - Iêng Xari cho quân đột nhập phá hoại, bắn giết dân ta nhiều nơi ở biên giới, chúng gây ra cảnh tàn sát hết sức dã man. Chấp hành lệnh của Bộ Tổng tham mưu. Từ ngày 16 tháng 4 năm 1978, Lữ đoàn hải quân đánh bộ 126 làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới chống xâm lược của bọn phản động Pôn Pốt ở khu vực Châu Đốc (An Giang) dọc tuyến kênh Vĩnh Tế. Với trách nhiệm là Trưởng phòng Tác chiến của Quân chủng, tôi cùng đi với lữ đoàn thực hiện nhiệm vụ này. Chỉ huy lữ đoàn có đồng chí Trần Sĩ Kịch.
Dọc tuyến sát kênh Vĩnh Tế phần lớn là ruộng lúa đã gặt, cánh đồng trơ trọi rất dễ lộ, nên mọi việc bố trí phòng thủ làm công sự trận địa đều phải tiến hành vào ban đêm. Bọn Pôn Pốt cũng thường đột nhập bắn phá vào ban đêm. Vì vậy đồng bào phải sơ tán hết. Từ khi có Lữ đoàn 126 về làm nhiệm vụ ở đây, chặn diệt được quân xâm nhập đánh phá của địch, bảo vệ được vùng biên giới nên đồng bào rất tin tưởng, dần dần hồi cư tiếp tục công việc sản xuất và ổn định cuộc sống. Trong 5 tháng làm nhiệm vụ bảo vệ vùng biên giới Lữ đoàn 126 đã chặn đánh địch nhiều trận, diệt hơn 1.000 tên địch.
Từ cuối năm 1977, tình hình tranh chấp chủ quyền ở vùng biển đảo của ta ngày càng tăng. Từ sau ngày giải phóng năm 1975, Hải quân được trên giao nhiệm vụ làm nòng cốt bảo vệ chủ quyền lãnh thổ trên vùng biển đảo rộng lớn của Tổ quốc mà trong đó khu vực quần đảo Trường Sa là một trọng điểm. Vào thời gian đó, chúng ta đã đóng giữ trên năm đảo: Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa, nhưng để ổn định tình hình khu vực này, chúng ta chủ trương không tổ chức đóng thêm các đảo nào nữa.
Ngày 12 tháng 5 năm 1977, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam của ta đã ra tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Trước tình hình tranh chấp chủ quyền ở vùng biển đảo ngày càng nóng lên nhất là ở khu vực quần đảo Trường Sa, chúng ta vẫn luôn chủ trương giải quyết mọi tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, yêu cầu các bên không nên làm gì gây thêm tình hình căng thẳng, làm mất ổn định tình hình ở khu vực này.
Thế nhưng ngày 2 tháng 3 năm 1978, Phillipin lại mở rộng chiếm đóng bằng việc đem quân đóng giữ thêm đảo Loai-ta tây (Panata). Một số nước khác cũng đem tàu dưới nhiều dạng, nhiều hình thức tiến hành hoạt động trinh sát và lén chôn ngầm bia chủ quyền trên một số đảo và bãi đá ngầm... Những hành động trên ngày càng làm cho việc tranh chấp chủ quyền ở khu vực quần đảo Trường Sa tăng thêm căng thẳng, phức tạp.
Trước tình hình đó, để bảo vệ được chủ quyền lãnh thổ. Quân chủng Hải quân sau khi cân nhắc kỹ đã đề nghị trên cho phép đóng giữ một số đảo chưa có người đóng giữ gần các đảo ta đang đóng giữ, vì nếu để đối phương lấn chiếm đóng giữ làm việc đã rồi, sẽ rất khó khăn cho ta. Không những ta không bảo vệ được chủ quyền ở những đảo đó mà còn trở thành bị bao vây trong tình hình tranh chấp chủ quyền ở khu vực quần đảo Trường Sa ngày càng gay gắt. Việc đóng giữ thêm một số đảo lúc này phải được cân nhắc kỹ vì nó có quan hệ đến ổn định tình hình khu vực đang tranh chấp. Đồng chí Giáp Văn Cương, có tôi tháp tùng trực tiếp báo cáo xin ý kiến của Bộ trưởng Quốc phòng và Tổng Bí thư về việc này.
Sau khi được trên cho phép, dưới sự chỉ đạo của Bộ tư lệnh Quân chủng, cơ quan tác chiến phối hợp với Vùng 4 lập kế hoạch sử dụng các tàu HQ601, HQ605, HQ606... của Lữ đoàn 125 cùng cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 146 tiến hành đóng giữ trọn vẹn các đảo: An Bang (10-3-1978), Sinh Tồn Đông (Gơ-ri-sân) (15-3-1978), Phan Vinh (Hòn Sập) (30-3-1978); Thuyền Chài (1-4-1978); Trường Sa Đông (Đá Giữa) (2-4-1978).
Có một tình huống xảy ra, là sau mấy ngày ta đóng giữ đảo An Bang, Mailaixia đã đưa tàu chiến và tàu đổ bộ đến uy hiếp bằng cách dàn hàng ngang từ xa chĩa súng tiến vào đảo nhiều lần, nhưng bộ đội ta do đồng chí Dân chỉ huy vẫn vững vàng sẵn sàng chiến đấu, tránh khiêu khích, giữ vững liên lạc với sở chỉ huy, cờ đỏ sao vàng vẫn bay phần phật trước gió. Sau nhiều lần uy hiếp dọa dẫm không được, đối phương phải rút lui.
Để đề phòng tranh chấp, song song với việc đóng giữ các đảo nói trên, từ tháng 3 đến tháng 5 năm 1978, chúng tôi cùng cơ quan quân báo lập kế hoạch khảo sát 19 bãi đá ngầm và đồng chí Võ Xuân Triều phó phòng Quân báo được phân công trực tiếp chỉ huy đội khảo sát này. Qua khảo sát có thêm nhiều tư liệu, thông tin để Quân chủng bổ sung vào kế hoạch tác chiến phòng thủ bảo vệ biển đảo của ta.
Cũng trong năm 1978, khi Đảng và Nhà nước Việt Nam và Liên Xô ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác toàn diện, trong đó có hợp tác quốc phòng, an ninh, Quân chủng Hải quân có trách nhiệm làm tham mưu cho Nhà nước, Bộ Quốc phòng và trực tiếp bàn bạc với bạn về quy chế hoạt động trong việc bảo đảm kỹ thuật cho tàu hải quân của bạn ở vịnh Cam Ranh. Đồng chí Nguyễn Bá Đạt, chánh văn phòng Đảng ủy – Bộ Tư lệnh Quân chủng và tôi được cử làm chuyên viên phục vụ cho Bộ tư lệnh đàm phán với Hải quân Liên Xô. Tinh thần hữu nghị nói chung chung thì dễ, nhưng đi vào cụ thể nhiều vấn đề liên quan đến chủ quyền đến an ninh trật tự, đến các mặt bảo đảm hoạt động... mới thấy hết sức phức tạp, mặc dầu ta và bạn ai cũng hiểu dựa trên tình đồng chí để bàn bạc, đàm phán. Qua đợt phục vụ này tuy vất vả hàng tháng trời nhưng cũng tạo điều kiện cho mình được cọ xát nâng cao trình độ nhận thức, nghiệp vụ.
Thấy trước, không chóng thì chầy, tình hình tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa cũng sẽ diễn ra phức tạp, uy hiếp đến phòng giữ chủ quyền của ta nên từ tháng 3 năm 1976, Quân chủng Hải quân đã khẩn trương triển khai nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu bảo vệ biển đảo, trong đó có một yêu cầu cấp bách là phải xây dựng ở đảo các công trình, công sự chiến đấu. Trung đoàn công binh 83 là đơn vị đầu tiên được giao làm nhiệm vụ thi công xây dựng. Cơ quan tác chiến và công binh của Quân chủng có nhiệm vụ không những làm kế hoạch, thiết kế công trình mà đã phối hợp với Vùng 4 trực tiếp tổ chức thực hiện và liên tục theo dõi chỉ đạo kiểm tra đôn đốc công việc này. Lần đầu tiên xây dựng công trình, công sự trực tiếp với nước biển ở đảo san hô, chưa có kinh nghiệm nên chưa bảo đảm chất lượng và tuổi thọ của công trình. Qua thực tế là những bài học sống động nâng cao nhận thức, trình độ cho cán bộ tham mưu chỉ huy chúng tôi về những yêu cầu kỹ thuật xây dựng công sự ở đảo san hô.
Trong khi ở biên giới Tây Nam đang phải chống tấn công xâm lấn của bọn phản động Pôn Pốt - Iêng Xari, việc tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa ngày càng tăng lên thì tình hình ở biên giới và vùng biển phía Bắc cũng diễn biến phức tạp, đòi hỏi phải khẩn trương tăng cường sẵn sàng chiến đấu. Quân chủng Hải quân có nhiệm vụ hiệp đồng với các quân khu ven biển bảo vệ chủ quyền biển đảo ở vịnh Bắc Bộ, đồng thời chống địch tấn công đổ bộ đường biển, đặc biệt bảo vệ quần đảo đông bắc và đảo Bạch Long Vĩ.
Tháng 9 năm 1978, sau khi chỉ đạo làm các công việc sẵn sàng chiến đấu ở vùng biển Tây Nam và Trường Sa, Tư lệnh Giáp Văn Cương chỉ thị cho tôi ra Hải Phòng và giao cho tôi làm kế hoạch đi khảo sát vùng biển phía Bắc. Đồng chí Nguyễn Ngọc Văn - Phó phòng Tác chiến vào thay tôi cùng một số cán bộ tác chiến tiếp tục phục vụ chỉ đạo công tác sẵn sàng chiến đấu của Bộ tư lệnh Quân chủng ở khu vực biển Tây Nam. Tham gia khảo sát cùng Tư lệnh còn có một số cán bộ của Quân chủng và chỉ huy Vùng 1. Qua các khu vực từ Trà Cổ, Mũi Ngọc, các đảo: Vĩnh Thực, Cái Chiên, Vạn Mặc, Vạn Vược, Bò Vàng, Đá Dựng, Thoi Dây, Cái Bầu, Hòn Chín, Vạn Hoa, Sậu Đông... Cho đến các đảo Thanh Lân, Cô Tô, Ngọc Vừng, Thượng, Hạ Mai, Cát Bà, Long Châu; đến các luồng lạch ở các Cửa Tán, Cửa Đại, Cửa Tiểu, Cửa Mô, Cửa Nội, Cửa Đối, Lạch Miều, Cửa Vạn...
Đoàn không chỉ khảo sát địa hình để làm kế hoạch tác chiến, mà còn quan hệ tìm hiểu tình hình các đơn vị phòng thủ bảo vệ tại một số đảo của Sư đoàn 242, Đặc khu Quảng Ninh để có quan hệ trong hiệp đồng chiến đấu. Qua nhiều địa hình phức tạp của từng đảo, bến bãi, luồng lạch để bổ sung đầy đủ hơn vào tình hình và số liệu mà trước đây ta đã có.
Cơ quan tác chiến chủ trì phối hợp với một số cơ quan khác phục vụ Bộ tư lệnh Quân chủng làm kế hoạch tác chiến và mệnh lệnh chiến đấu cho các đơn vị với yêu cầu rất khẩn trương vì tình hình bảo vệ biên giới đất liền cũng như vùng biển phía Bắc đang nóng lên từng ngày.
Từ tháng 10 năm 1978, Vùng 1, Vùng 3 hải quân và một số đơn vị đã nhận được mệnh lệnh mới của Tư lệnh Hải quân, khẩn trương triển khai kế hoạch sần sàng chiến đấu và hiệp đồng chiến đấu bảo vệ biển đảo. Khi chiến tranh nổ ra trên toàn tuyến biên giới phía Bắc (17-2-1979), trong nhiệm vụ của Quân chủng Hải quân hiệp đồng với các Quân khu chiến đấu bảo vệ biển đảo, cơ quan tác chiến của Quân chủng dưới sự chỉ đạo của Bộ Tham mưu tổ chức các bộ phận đi xuống cơ sở để theo dõi và giúp đỡ các đơn vị triển khai kế hoạch sẵn sàng chiến đấu. Khẩn trương đưa một số đơn vị mới được thành lập và nâng cấp vào làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu như các Lữ đoàn tàu 161, 170, 127, 125... Lữ đoàn hải quân đánh bộ 147, Trung đoàn 952 ở đảo Bạch Long Vĩ.
Ngày 7 tháng 1 năm 1979, đáp lời kêu gọi của nhân dân và Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, bộ đội tình nguyện Việt Nam cùng quân và dân nước bạn đánh đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt - Iêng Xari. Trong bộ đội tình nguyện Việt Nam có các lực lượng của Hải quân như Vùng 5, Hạm đội 171 và Lữ đoàn hải quân đánh bộ 126... cùng tham gia phối hợp giải phóng các cảng Ream, Kôngpông Xom, tỉnh Cô Công và các đảo. Sau ngày giải phóng, Vùng 5 hải quân giúp bạn Campuchia bảo vệ các đảo gồm có tiểu đoàn 562 ở đảo Cô Tang, 563 ở đảo Vai, 572 ở đảo Côrông - Salem, tiểu đoàn 573 ở đảo Phú Dự và đại đội 2 ở đảo Cô Công.
Tháng 12 năm 1979, khi Lữ đoàn 170 có kế hoạch hiệp đồng chiến đấu bảo vệ quần đảo đông bắc với Sư đoàn 242, đặc khu Quảng Ninh, tôi đến gặp đồng chí Thọ - Chỉ huy trưởng và đồng chí Phương - Chính ủy của Lữ đoàn tại khu vực đảo Chàng Ngọ để kiểm tra và thống nhất tổ chức sở chỉ huy phía trước của lữ đoàn ở khu vực này. Sau đó cùng với đoàn của cơ quan Quân chủng kiểm tra sẵn sàng chiến đấu của đảo Bạch Long Vĩ nhằm bổ sung kế hoạch chiến đấu và tăng cường lực lượng, nâng cao khả năng chiến đấu phòng thủ của đảo.
Lúc này do sự tàn phá của chiến tranh, nền kinh tế của đất nước chưa kịp phục hồi, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn. Các thế lực thù địch ra sức thực hiện âm mưu “chiến tranh phá hoại nhiều mặt” nhằm lũng đoạn cả về tư tưởng, chính trị cũng như phá hoại sự phục hồi kinh tế của ta. Chúng gây ra tình hình xâm nhập trái phép của bọn phản động chống phá quốc phòng an ninh và lừa đảo kích động một số người dân di cư bất hợp pháp ở nhiều địa phương ven biển, ảnh hưởng nhiều đến an ninh trật tự. Quân chủng Hải quân ngoài việc cảnh giác chống “chiến tranh phá hoại nhiều mặt” tác động vào đơn vị mình, còn có nhiệm vụ tích cực tham gia cùng các lực lượng chống mọi âm mưu hành động của chiến tranh phá hoại nhiều mặt, để gìn giữ an ninh trật tự ven biển, trên biển. Cũng từ năm 1979, trên vùng biển của ta ở vịnh Bắc Bộ cho đến vùng biển ở các tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, Quảng Ngãi có nhiều tàu cá nước ngoài lợi dụng tình hình xâm nhập hoạt động trái phép mà ta phải thường xuyên điều động lực lượng xua đuổi. Căn cứ vào kế hoạch của Bộ tư lệnh Quân chủng, cơ quan tác chiến phải thêm một mảng công việc cấp thiết để phục vụ Quân chủng kịp thời chỉ huy, chỉ đạo các đơn vị làm nhiệm vụ trước tình hình nói trên.
Việc chống xâm nhập tàu cá cửa nước ngoài đánh trộm hải sản trên vùng biển của ta hết sức phức tạp. Ở vịnh Bắc Bộ, hàng ngày có hàng trăm tàu cá nước ngoài xâm nhập. Chủ trương của ta là chỉ xua đuổi, tránh gây tình hình căng thẳng. Trên vùng biển rộng mênh mông, ta không thể đủ tàu để thường xuyên có mặt ở mọi khu vực và không có máy bay tuần tra. Vì vậy đuổi được khu vực này, họ lại xâm nhập vào khu vực khác.
Lực lượng rađa quan sát biển và tàu của ta phải liên tục hoạt động. Trực ban tác chiến cũng phải theo nhịp độ đó để phục vụ Quân chủng chỉ huy, chỉ đạo công việc này nhằm bảo vệ chủ quyền và an ninh trật tự trên biển.



