Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh Phần 5
Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh Phần 5
Chương năm
ĐƯỜNG RA BIỂN LỚN
Tháng 8 năm 1980, tôi được trên cử đi học trường quân sự cao cấp ở Liên Xô. Đang cuốn hút vào công tác chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu ở cơ quan tác chiến của Quân chủng, tin đó là một điều mừng vì được trên cho đi học để nâng cao trình độ phục vụ lâu dài trong quân đội. Tuy nhiên, tôi cũng có đôi chút băn khoăn là trong bối cảnh cơ quan tác chiến đã và đang phục vụ lãnh đạo, chỉ huy của Quân chủng vào thời điểm tình hình bảo vệ chủ quyền biển, đảo đang còn hết sức khó khăn phức tạp, rất tiếc là mình không được cùng anh em cán bộ tác chiến tiếp tục làm công việc này.
Thực ra, có mình hay không có mình chẳng có gì đáng nói, nhưng đây là một thứ tình cảm của trách nhiệm tự nhiên thông thường của người cán bộ khi thôi làm nhiệm vụ mà mình đang say sưa làm để nhận nhiệm vụ khác.
Trước khi đi học, tôi được phép về thăm nhà mấy ngày. Vừa được cử đi học, tôi lại vừa được đề bạt chức Phó tham mưu trưởng Quân chủng. Cổ nhân có câu “Phúc bất trùng lai” nhưng lần này đối với mình thì dường như là “Phúc trùng lai”, về thăm nhà trong hoàn cảnh kinh tế đất nước đang khó khăn, gia đình cũng nằm trong hoàn cảnh đó, nhưng một việc xảy ra khó khăn hơn là vợ tôi đột nhiên bị ốm nặng phải vào viện mổ cấp cứu, các con đang tuổi đi học, chưa tự lực được, phải nhờ người đem vợ đi bệnh viện cùng lúc tôi lên đường trở về đơn vị để kịp ngày đi học. Chưa hết, còn người anh ruột lại mắc bệnh hiểm nghèo đang ở vào giai đoạn cuối. Lúc này mới thật là “Họa vô đơn chí”.
Trước tình hình như vậy, có nên xin trên thôi đi học để lo những việc đột xuất của gia đình mới xảy ra. Việc công, việc tư những lúc này nhiều phân vân, khó xử. Cuối cùng tôi chọn phương án là xác định quyết tâm đi học theo quyết định của trên, mặc dù chân bước đi mà lòng chưa thanh thản.
Vào học trường Bộ Tổng tham mưu các lực lượng vũ trang Liên Xô mang tên Vô-rô-si-lôp(1) là trường đào tạo cán bộ quân sự cao cấp chỉ huy tham mưu cấp chiến dịch, chiến lược. Đây là Trường Quân sự binh hợp chủng thành cao cấp nhất của Liên Xô lúc bấy giờ. Các giáo viên giảng lý thuyết cho đến hướng dẫn bài tập đều là cấp tướng của các quân, binh chủng. Bắt đầu khóa học, chúng tôi được đi tham quan diễn tập thực binh ở một số đơn vị của các quân, binh chủng của bạn và ôn tập chiến thuật chiến đấu của sư đoàn bộ binh. Những việc đó, nhằm ôn tập kiến thức cơ sở cho học viên để đi vào học chỉ huy-tham mưu ở cấp cao hơn.
Đi học khóa này, có 11 người ở các quân binh chủng như các đồng chí Nguyễn Minh Long, Đỗ Phú Vàng, Lê Văn Nhân, Nguyễn Đáng, Từ Văn Biền ở bộ binh; Nguyễn Văn Thực ở Phòng không, Nguyễn Tiến Sâm ở Không quân, Nguyễn Văn Phác ở Tăng thiết giáp; Nguyễn Phượng ở Hậu cần. Hải quân có đồng chí Lê Kế Lâm và tôi. Cả 11 người học cùng một lớp. Học chung chương trình với sĩ quan các nước trong khối quân sự Vác-sa-va như: Cộng hòa dân chủ Đức, Tiệp Khắc, Ba Lan... Chương trình học tập rất nặng, ngoài việc học về chiến dịch, chiến lược quân sự, còn học lý luận chính trị, học lịch sử quân sự của Liên Xô và có cả phần giới thiệu về “chiến tranh cục bộ” ở Việt Nam, trong khi ở Việt Nam chúng tôi chưa kịp nghe phần tổng kết này.
Tài liệu học tập ở đây, qua những lần rút kinh nghiệm diễn tập quân sự của khối quân sự Vác-sa-va đều được sửa đổi bổ sung. Sau khi học lý thuyết về từng chiến dịch tấn công, phản công, phòng ngự... thì thực hành diễn tập trên bản đồ và ra thực địa kéo dài hàng tháng; diễn tập sử dụng lực lượng từng quân, binh chủng hợp thành. Khối lượng học nhiều như vậy, nhưng đều là tài liệu tối mật, tuyệt mật, hết giờ học ở lớp là phải gửi lại thư viện, tuyệt đối không được mang bất cứ thứ gì về nhà nghỉ, vì vậy không có gì để tranh thủ học thêm ngoài giờ được! Chúng tôi phải đề nghị nhà trường cho đến lớp học thêm một buổi vào ngày chủ nhật. Có điều, học trực tiếp bằng tiếng Nga, trong lúc trình độ ngoại ngữ của chúng tôi chưa thật thành thạo lắm, cho nên kết quả học tập, khi kiểm tra thi cử bị hạn chế phần nào. Bù lại, học viên Việt Nam hầu hết đã trải qua chiến đấu trong chiến tranh nên có kinh nghiệm thực tế giúp tiếp thu nhanh.
Có thể nói qua hai năm học tập ở trường này đã mở rộng và nâng cao kiến thức cho mình rất nhiều về chỉ huy-tham mưu chiến đấu hiệp đồng quân, binh chủng kể cả tổ chức huấn luyện diễn tập khi có nhiều lực lượng tham gia một cách chính quy bài bản.
Những ngày học ở Học viện Vô-rô-si-lốp, cường độ học tập rất cao, chế độ học tập của nhà trường rất nghiêm túc, chính quy, chặt chẽ. Đội ngũ giáo viên và cán bộ phụ trách có trình độ cao trực tiếp giảng dạy và hướng dẫn như thượng tướng Đi-mi-tơ-rốp, trung tướng Cô-lốp; các thiếu tướng Lô-ma-tren-cô, Ê-gu-rơ-nốp, Ma-kho-rin... Từ các giáo viên đến những người phục vụ học tập của nhà trường không những tận tình truyền đạt kiến thức cho học viên, giúp đỡ chúng tôi trong học tập với nghĩa tình thầy trò mà còn mang đậm tình đồng chí, tình hữu nghị giữa Liên Xô và Việt Nam. Tình nghĩa của những người anh em Xôviết mãi mãi đọng lại trong ký ức của chúng tôi.
Tháng 7 năm 1982, tôi được bổ nhiệm làm Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân chủng Hải quân. Tuy đã hiểu về nghiệp vụ và trước đây đã quen biết các đơn vị trong Quân chủng nhưng tình hình có nhiều thay đổi. Trong Bộ tư lệnh Quân chủng lúc bấy giờ có Tư lệnh Đoàn Bá Khánh, Chính ủy Trần Văn Giang và các anh Nguyễn Dưỡng - Phó tư lệnh phụ trách công tác huấn luyện; Huỳnh Kim phụ trách hậu cần; Hoàng Phúc phụ trách kỹ thuật; Phạm Huấn phụ trách lục quân của hải quân. |
Cuộc diễn tập diễn ra nhiều ngày, chỉ huy tham mưu Quân chủng, không những trình diễn để cấp trên kiểm tra mà còn phải hướng dẫn, kiểm tra tất cả các cơ quan của Quân chủng về công tác tham mưu chỉ huy của từng ngành, từng bộ phận, làm đầy đủ mọi việc, mọi văn kiện về công tác chỉ huy tham mưu.
Cuộc diễn tập công tác chỉ huy tham mưu lần này có thể nói lần đầu của toàn quân có đủ các quân binh chủng tham gia với quy mô lớn. Tư lệnh Đoàn Bá Khánh và tôi, từng người được báo cáo trình diễn, kiểm tra ở Bộ Tổng tham mưu với kết quả tốt. Các cơ quan của Quân chủng với sự tập trung huấn luyện cũng đã trình diễn kiểm tra tốt trước Tư lệnh Quân chủng. Cuộc diễn tập đã đem lại kết quả tốt, trình độ chỉ huy tham mưu của cán bộ được nâng lên nhiều.
Năm 1983, Bộ tham mưu Hải quân được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhì, do có nhiều thành tích trong xây dựng và chiến đấu. Đây là kết quả của một quá trình phấn đấu vì nhiệm vụ của toàn thể cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng của Bộ tham mưu Quân chủng. Tôi mới về lại làm tham mưu trưởng cũng rất vinh dự.
Cuối năm 1983, triển khai Nghị quyết của Bộ Chính trị Trung ương Đảng “Về nhiệm vụ củng cố quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang bảo vệ Tổ quốc trong những năm 1983-1990” và Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng về cuộc vận động “Phát huy bản chất tốt đẹp và nâng cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân trong ba năm 1983-1985”, Bộ tham mưu chủ trì lập kế hoạch tổ chức lực lượng hải quân trong ba năm (1983-1985) thông qua Đảng ủy và Tư lệnh Quân chủng để báo cáo Bộ Quốc phòng. Trong đó ngoài tăng cường một số đơn vị chiến đấu, rút gọn một số cơ quan, đơn vị phục vụ, thanh lí một số vũ khí trang bị hư hỏng, có đề nghị tổ chức biên chế của Cục tham mưu Lục quân... Khi Bộ Tổng tham mưu ra quyết định tổ chức biên chế cho hải quân, Bộ tham mưu đã chỉ đạo tổ chức thực hiện tốt ở từng đơn vị theo chỉ đạo của Tư lệnh Quân chủng.
Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về “đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch”, bộ đội hải quân làm nhiệm vụ trên biển đã tích cực cùng các lực lượng ngăn chặn âm mưu, hành động này của địch, trong đó nổi lên là chống cướp tàu, thuyền để vượt biên bằng đường biển.
Đi đôi với việc duy trì nghiêm lực lượng trực chiến sẵn sàng và liên tục nắm tình hình mặt biển sẵn sàng ngăn chặn các hiện tượng vượt biên trái phép, Tư lệnh Giáp Văn Cương giao cho tôi nghiên cứu đề xuất bổ sung điều lệnh và quy chế quản lý, sử dụng lực lượng nhất là đối với lực lượng tàu cho phù hợp với tình hình lúc bấy giờ. Trong đó có việc là Sở chỉ huy Quân chủng phải nắm được từng tàu lớn, nhỏ của hải quân bất cứ lúc nào đang ở đâu, hoạt động gì trên các căn cứ và vùng biển Việt Nam. Việc này đòi hỏi các cấp chỉ huy từ tàu đến Hải đội, Hải đoàn, Lữ đoàn, Vùng hải quân phải thông suốt và chấp hành nghiêm trong lúc bảo đảm thông tin liên lạc của hải quân vừa thiếu, vừa lạc hậu là một việc rất khó khăn. Tuy vậy, từ khi có những quy định cụ thể về quản lý điều động sử dụng tàu cùng với việc giáo dục nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ trong việc quản lý bộ đội đã góp phần tích cực vào việc gìn giữ an ninh trật tự trên biển và ven biển.
Trong tình hình các thế lực thù địch đang ra sức đẩy mạnh chiến tranh phá hoại nhiều mặt làm suy yếu Việt Nam và gây mất ổn định chính trị. Tình hình an ninh, trật tự trên biển diễn biến rất phức tạp, tàu thuyền nước ngoài xâm nhập hoạt động trinh sát, đánh trộm hải sản trên khắp vùng biển nước ta ngày càng tăng. Với sự tác động của bọn phản động, tình hình vượt biên trái phép bằng đường biển không giảm. Là lực lượng nòng cốt trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ trên biển. Hải quân Việt Nam đã phải cùng các lực lượng tập trung làm nhiệm vụ bảo vệ vùng biển, gìn giữ an ninh trật tự trên biển, sẵn sàng chống địch tấn công xâm lược từ hướng biển trong tình hình như đã nói trên. Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân chủng Hải quân đã có nghị quyết và nhiều biện pháp, kế hoạch để lãnh đạo chỉ huy các đơn vị trong toàn Quân chủng thực hiện tốt nhiệm vụ.
Vào thời điểm từ sau khi Việt Nam và Liên Xô ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác toàn diện (3-11-1978) đến nay Hải quân đã được bạn viện trợ một số phương tiện, vũ khí chiến đấu. Trong đó có các tàu hộ vệ chống ngầm, tàu tên lửa, tàu phóng lôi, tàu tuần tiễu săn ngầm, tàu rà quét thủy lôi, tàu đổ bộ...; các đơn vị tên lửa, pháo binh bờ biển, xe tăng, xe bọc thép...; lực lượng hải quân được mở rộng và tăng cường khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu. Với chức trách tham mưu tác chiến, tôi tập trung củng cố biên chế tổ chức, huấn luyện lực lượng mới bổ sung vào chỉ huy chỉ đạo nắm chắc tình hình trên biển, nhanh chóng ổn định, củng cố biên chế tổ chức, huấn luyện lực lượng mới bổ sung, thúc đẩy việc tăng cường xây dựng công trình chiến đấu ở các đảo trước hết tập trung xây dựng ở đảo Bạch Long Vĩ và các đảo ở quần đảo Trường Sa.
Bước sang năm 1984, mọi công tác này được đẩy mạnh. Khi tàu đánh cá và các tàu hoạt động khác của nước ngoài xâm nhập sâu vào các vùng biển của ta hằng ngày có hàng trăm lần chiếc. Quân chủng đã lệnh cho lực lượng tàu Vùng 1 hải quân, truy quét xua đuổi tàu nước ngoài xâm phạm ở khu vực biển Bạch Long Vĩ, Cô Tô, Thanh Lân và điều một số tàu của Vùng 3 (các tàu HQ-272, HQ-273, HQ-277, HQ-278) mà bạn vừa viện trợ vào tham gia truy quét xua đuổi tàu cá nước ngoài xâm phạm ở vùng biển Tây Nam.
Sau chiến tranh biên giới phía Bắc, yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc của lực lượng vũ trang cách mạng càng cấp thiết hơn bao giờ hết. Trước yêu cầu đó, hải quân là một thành phần của quân đội đòi hỏi phải tăng cường và nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu. Ngoài yếu tố tinh thần chính trị, tư tưởng trang bị, hải quân đang ra sức huấn luyện kỹ, chiến thuật hiệp đồng tác chiến trên biển.
Theo kế hoạch huấn luyện quân sự năm 1984 đã báo cáo Bộ Tổng tham mưu, đồng chí Giáp Văn Cương - Tư lệnh Quân chủng đã chỉ đạo Bộ tham mưu Hải quân lập kế hoạch diễn tập hiệp đồng chiến đấu đổ bộ đường biển với Hải quân Liên Xô mang mật danh “HN-84”, mà trong đó có thực nghiệm một số trang bị mới được Liên Xô viện trợ. Cuộc diễn tập hiệp đồng chiến đấu này diễn ra vào thời điểm đỉnh cao của sự hợp tác hữu nghị giữa ta và Liên Xô.
Căn cứ vào ý định của Tư lệnh Quân chủng, tôi cùng đồng chí Lê Kế Lâm - Phó tham mưu trưởng hướng dẫn cán bộ tham mưu tác chiến, huấn luyện, có sự tham gia của cán bộ các Cục tham mưu Lục quân và Cục huấn luyện Nhà trường làm các văn kiện diễn tập báo cáo Tư lệnh chuẩn duyệt. Khi làm kế hoạch diễn tập hiệp đồng với lực lượng của Hải quân Liên Xô có cố vấn quân sự của bạn cùng tham gia. Các văn kiện từ quyết tâm chiến đấu của người chỉ huy đến các kế hoạch chiến đấu từ cấp Quân chủng đến các đơn vị tham gia diễn tập đều thống nhất làm theo những quy định mới sau khi đã được tập huấn. Đây cũng là dịp để huấn luyện nâng cao trình độ của cán bộ tham mưu chỉ huy các cấp, các ngành.
Cuộc diễn tập có nhiều lực lượng tham gia như Lữ đoàn hải quân đánh bộ 147; các tàu chiến đấu và phục vụ chiến đấu của Vùng 1, của Cục kinh tế; các tàu đổ bộ của Lữ đoàn 125; máy bay trực thăng săn ngầm Ka-25, các đài trạm rađa... Về phía bạn có tàu sân bay Minck chở máy bay cất cánh thẳng đứng YAK-38 một số tàu chiến khác.
Diễn tập đổ bộ đường biển ở bãi biển huyện Quảng Xương, Thanh Hóa.
Để tiến tới diễn tập tổng hợp, Bộ tham mưu phải chỉ đạo kế hoạch tập luyện hiệp đồng phân đoạn của từng đơn vị. Mấy ngày trước đó, tôi cùng các đồng chí cán bộ huấn luyện tàu và cán bộ Cục tham mưu Lục quân xuống trực tiếp Lữ đoàn 147 kiểm tra huấn luyện hiệp đồng giữa xe tăng, xe lội nước, bộ binh với các tàu đổ bộ của Lữ đoàn 125. Những cuộc kiểm tra huấn luyện phân đoạn này rất bổ ích để kịp thời phát hiện khắc phục những tồn tại về kỹ, chiến thuật chiến đấu của bộ đội.
Trước lúc diễn tập mười ngày, đồng chí Tư lệnh Giáp Văn Cương và tôi vào trực tiếp kiểm tra việc chuẩn bị thao trường đổ bộ ở bãi biển các xã Quảng Nham, Quảng Thạch, Quảng Thái... Tại đây, mà đồng chí Trương Đăng Thái cán bộ tham mưu Lục quân được cử vào trước làm công tác chuẩn bị.
Ngày 14 tháng 4 năm 1984, cuộc diễn tập thực binh “HN-84” bắt đầu. Đồng chí Phó đô đốc Giáp Văn Cương - Tư lệnh Quân chủng vừa là Trưởng ban chỉ đạo diễn tập vừa là người chỉ huy diễn tập và tôi được phân công làm Tham mưu trưởng diễn tập với Sở chỉ huy diễn tập ở tàu đổ bộ LST 505.
Cuộc diễn tập gặp một trở ngại lớn là suốt cả thời gian hành quân trên biển cho đến khi thực hành đổ bộ, trên biển trời mù dày đặc, tầm nhìn dưới 100m. Để bảo đảm an toàn đội hình hành quân, các tàu phải kết hợp chặt chẽ quan sát rađa và quan sát mắt với liên tục dùng còi tàu phát tín hiệu để tránh va chạm. Đến thời gian triển khai đội hình thực hành đổ bộ rồi mà trời mù dày đặc, tầm nhìn xa dưới 100m nên người chỉ huy không thể quan sát được đội hình đổ bộ cũng như bãi đổ bộ.
Đồng chí Trần Sĩ Kịch - Lữ đoàn trưởng hải quân đánh bộ 147 và chỉ huy Lữ đoàn tàu 125 báo cáo là các đơn vị đã đến khu vực đổ bộ rồi, đang chuẩn bị chuyển vào tuyến xuất phát tấn công. Tôi đề nghị và được Tư lệnh Giáp Văn Cương đồng ý lệnh cho các đơn vị tiến hành đổ bộ ngay, đồng thời lệnh cho nổ các bãi bộc phá làm pháo hỏa chuẩn bị ở trong bờ để cho quân đổ bộ theo hướng pháo nổ mà tiến vào, vì trời sương mù không quan sát được bờ, nếu để chậm tàu bị trôi dạt ra ngoài hướng bãi đổ bộ. Đổ bộ vào bờ rồi trời mới giảm mù. Đồng chí Giáp Văn Cương và tôi đi máy bay trực thăng Ka-25 từ tàu LST 505 vào bờ vừa hạ cánh xuống thì các xe tăng đổ bộ đang phát triển vào tung thâm.
Trời sương mù quá dày đặc, không quan sát được bờ để điều chỉnh hướng và tốc độ nên có xe tăng bị trôi dạt vào phía nam ra ngoài rìa bãi đổ bộ. Cuộc diễn tập đổ bộ đường biển đạt được yêu cầu cả về giai đoạn hành quân trên biển và thực hành chiến thuật đổ bộ đường biển, bảo đảm an toàn trong điều kiện sương mù dày đặc. Tuy vậy, kết quả của diễn tập cũng bị hạn chế bởi ảnh hưởng của sương mù.
Qua đây để thấy một bài học lớn của hải quân hoạt động trên biển, chịu sự chi phối lớn của thời tiết. Yếu tố thời tiết có tác động lớn đến hiệu quả và bảo đảm an toàn hoạt động trên biển của hải quân. Vì vậy, yêu cầu chỉ huy hoạt động của hải quân luôn phải nắm chắc thời tiết. Cũng vì thời tiết xấu, sương mù quá dày đặc, nên máy bay của bạn cũng không bay diễn tập hiệp đồng với ta được.
Trong năm 1984, công tác tổ chức biên chế của Quân chủng có những thay đổi mà Bộ tham mưu Hải quân theo chỉ đạo của Bộ Tổng tham mưu và Tư lệnh Hải quân phải vừa nghiên cứu đề xuất, vừa phải tổ chức thực hiện khi có quyết định của trên. Tôi và đồng chí Nguyễn Vũ Bảo - Phó tham mưu trưởng kiêm Trưởng phòng Tổ chức động viên với chức trách của Bộ tham mưu tập trung chỉ đạo công việc này. Đó là chấn chỉnh tổ chức biên chế Lữ đoàn tàu 162 và chuyển Lữ đoàn 162 từ trực thuộc Vùng 1 về trực thuộc Vùng 3. Chuyển Lữ đoàn tàu 171 trực thuộc Bộ tư lệnh Quân chủng về trực thuộc Vùng 4. Chấn chỉnh tổ chức biên chế Trung đoàn công binh 83 và chuyển trung đoàn này từ Vùng 4 về trực thuộc Bộ tư lệnh Quân chủng; giải thể Đoàn 403 đào tạo hạ sĩ quan; chấn chỉnh tổ chức biên chế của Bộ tham mưu Hải quân...



