MIG-17: CUỘC CHIẾN GIỮA BÓNG MA VÀ SỰ DŨNG CẢM
Năm 1966 cuộc chiến tranh ở Việt Nam đang ở giai đoạn leo thang ác liệt nhất, chiến dịch “Rolling Thunder” (Sấm Rền) như một cơn bão lửa chút xuống miền Bắc Việt Nam, mục tiêu của Mỹ rất rõ ràng, đưa miền Bắc về thời kỳ đồ đá và cắt đứt đường chi viện cho miền Nam. Phe Mỹ sở hữu những con quái vật trên bầu trời, F-4 PHANTOM II con ma siêu thanh, F-105 THUNDERCHIEF những cố máy ném bom khổng lồ với tốc độ kinh hoàng, F-8 CRUSADER những hiệp sĩ thánh chiến của quân đội Mỹ.
Năm 1966 cuộc chiến tranh ở Việt Nam đang ở giai đoạn leo thang ác liệt nhất, chiến dịch “Rolling Thunder” (Sấm Rền) như một cơn bão lửa chút xuống miền Bắc Việt Nam, mục tiêu của Mỹ rất rõ ràng, đưa miền Bắc về thời kỳ đồ đá và cắt đứt đường chi viện cho miền Nam.
Phe Mỹ sở hữu những con quái vật trên bầu trời, F-4 PHANTOM II con ma siêu thanh, F-105 THUNDERCHIEF những cố máy ném bom khổng lồ với tốc độ kinh hoàng, F-8 CRUSADER những hiệp sĩ thánh chiến của quân đội Mỹ.
Ở phía không quân non trẻ của chúng ta chỉ có trong tay những chiếc MIG-17 sản xuất từ những năm 1951 không có radar không có tên lửa, trong buồng lái chật hẹp nóng như thiêu đốt của chiếc MIG-17 là Nguyễn Văn Bảy chàng trai miền Nam tập kết ra Bắc ý thức rất rõ sự chênh lệch này, nó như là đấu sĩ quyền anh hạng ruồi đánh với một gã khổng lồ hạng nặng.
Với sự chênh lệch về vũ khí và lợi thế như vậy đã sản sinh ra một lối đánh độc nhất vô nhị, một nghệ thuật quân sự trên không mà người Mỹ chưa bao giờ được dạy trong môi trường huấn luyện, một lối đánh du kích trên bầu trời.
Nguyễn Văn Bảy sinh năm 1937, là người con thứ bảy trong gia đình 11 người con, ông từng kể rằng: “Tao toàn gặp số bảy, Tên Bảy, con thứ 7, đi bộ đội lúc 17 tuổi, học văn hóa 7 ngày lên lớp 7, 7 lần bắn rơi 7 máy bay Mỹ bằng máy bay MIG-17”. Ông xung phong tham gia khóa huấn luyện phi công tiêm kích tại Trung Quốc. “Chúng tôi tiến thẳng từ xe đạp lên máy bay. Tôi chỉ học lái oto sau khi lá được máy bay”. Quá trình học bay của ông là những chuỗi ngày vượt khó không tưởng tượng nổi, trong những ngày đầu học bay ở Trung Quốc ông bị say máy bay giữ giội. Các học viên tại đây bắt đầu với máy bay huấn luyện Yak-18, sau đó chuyển sang MIG-15 rồi MIG-17 trong bốn năm với sự hướng dẫn của giảng viên Liên Xô và trở về Việt Nam năm 1965. Trước khi xuất kích trận đầu, phi công Nguyễn Văn Bảy mới chỉ có khoảng 100 giờ bay trên MiG-17 so với phía bên kia là các phi công với hàng nghìn giờ bay.
Chiều ngày 6 tháng 9 năm 1966, bầu trời miền Bắc vẫn còn vương nắng cuối hạ. Nhưng phía ngoài biển không quân Mỹ tăng cường các đợt đánh phá cầu đường, kho tàng và tuyến vận tải chiến lược miền Bắc, Các F-105 THUNDERCHIEF cường kích thường được các tiêm kích F-4 PHANTOM hộ tống. Radar mặt đất phát hiện hiện mục tiêu từ xa. Không khí trong sở chỉ huy căng lên theo từng phút.
Khoảng 15 giờ 28 phút, còi báo động vang lên. Nguyễn Văn Bảy cùng biên đội trực chiến lập túc chạy ra đường băng. Ông trèo lên buồng lái chiếc MIG-17 quen thuộc. Động cơ khởi động, tiếng gầm kim loại xe gió. Chỉ ít phút sau, chiếc máy bay nhỏ gọn lao vút lên không trung. Ông Bảy biết rõ cảm giác lúc ấy, không phải hồi hộp mà là tập trung cao độ. Mỗi lần cất cánh đều có thể là một lần không trở lại. So với sự chênh lệch từ công nghệ kỹ thuật đến kinh nghiệm của người Mỹ, ông Bảy cùng các phi công khác bù đắp lại bằng sự dũng cảm, tư duy chiến thuật sắc bén.
15 giờ 35 phút, Biên đội bay thấp để tránh radar và tên lửa tầm xa của đối phương. Phía trước, đội hình F-105 và F-4 đang tiến vào khu vực Hà Bắc. So với MIG-17, F-105 nhanh hơn, mang nhiều vũ khí hơn, nhưng MIG-17 có ưu thế cơ động ở vòng lượn hẹp. Chiến thuật của là “đánh gần, đánh nhanh”.
15 giờ 38 phút, khoảng cách ban đầu hơn 800 mét. Ông không vội bắn, nếu khai hỏa quá sớm, đối phương sẽ cơ động tránh né hoặc gọi đồng đội hỗ trợ. MIG-17 vòng gắt, rút ngắn cự ly xuống còn khoảng 400 mét… rồi 300 mét. Trong buồng lái chật hẹp, tim đập mạnh nhưng tay vẫn chắc cần lái. Ở khoảng cách này, ông có thể nhìn rõ hình dáng chiếc F-105 phía trước.
15 giờ 39 phút, ông siết cò. Loạt pháo 23mn và 37mn đồng loại khai hỏa. Những vệt đạn xé không khí, lao thằng vào mục tiêu. Chỉ vài giây sau, khói đen phụt ra từ thân chiế F-105. Máy bay nghiêng mạnh rồi bốc cháy. Phi công Mỹ buộc phải nhảy dù. Toàn bộ khoảnh khắc ấy diễn ra chưa đầy một phút. Nhưng ngay lập tức, tình thế đảo chiều.
15 giờ 40 phút, hai chiếc F-4 hộ tống phát hiện MIG-17 và lao tới phản kích, Nếu chậm một nhịp, tên lửa có thể được phóng đi. Nguyễn Văn Bảy kéo cần lái, hạ thấp độ cao, lượn gắt liên tiếp. MIG-17 không nhanh bằng F-4, nhưng lại lnh hoạt hơn trong vòng cua hẹp. Ông giữ máy bay sát tầng thấp, lợi dụng địa hình và mấy để thoát ly. Đó là những giấy phút căng thẳng nhất. Không còn tiếng pháo của mình, chỉ còn tiếng cảnh bao và cảm giác bị bám đuôi phía sau. Nhưng cuối cùng, đối phương mất mục tiêu.
15 giờ 45 phút, biên đội rút khỏi khu vực giao chiến và hạ cánh an toàn. Khi bước xuống khỏi buồng lái, ông chỉ nói ngắn gọn: “Đánh gần mới chắc. Xa quá mình thua”. Không có sự ồn ào, không có tiếng reo hò lớn. Chiến công được ghi nhận, nhưng với ông, đó chỉ là nhiệm vụ trong hàng trăm lần xuất kích.
Đáng chú ý, Ông Bảy lúc đó mới cưới vợ hơn một tuần. “Đám cưới của tôi diễn ra trong 15 phút. Tôi cởi bộ đồ bay mặc quần áo dân sự, làm lễ cưới rồi hút một điếu thuốc. Sau đó tôi quay lại đơn vị và chiến đấu liên tục trong 12 ngày trước khi gặp lại vợ”.
Chiến công này của ông Bảy có ý nghĩa rất lớn vào thời điểm đó, góp phần chứng minh chiến thuật áp sáp của MIG-17 hiệu quả trước máy bay hiện đại hơn. Rồi từ đó sinh ra các giai thoại lịch sử về những chiến công hiển hách như bắn hạ B-52 trên bầu trời Hà Nội.
Sau khi Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy bắn rơi 7 máy bay Mỹ, để giữ gìn lực lượng nòng cốt cho sự phát triển của Không quân, Bác Hồ chỉ thị không để ông tiếp tục trực tiếp chiến đấu, mà chuyển sang làm công tác chỉ huy, bay kèm để huấn luyện và dìu dắt phi công trẻ. Nhắc lại chuyện ấy sau này, ông nói một câu vừa mạnh mẽ vừa rất thật: “Nếu Bác cho trực tiếp đánh nữa thì có thể tôi sẽ bắn rơi thêm vài chiếc nữa, nhưng cũng có thể đã hy sinh…”
Đó là tinh thần của một người lính bay: dám bay, dám đương đầu và hiểu rất rõ hiểm nguy của mỗi lần xuất kích. Trong cuộc chiến đấu trên không bảo vệ bầu trời Tổ quốc, Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy đã viết nên một huyền thoại với 94 lần xuất kích, nổ súng 13 lần, bắn rơi 7 máy bay Mỹ và lập một kỷ lục nữa là không nhảy dù một lần nào. Ông có vinh dự được Bác Hồ tặng 7 Huy hiệu của Người. Phi công Nguyễn Văn Bảy được ghi nhận là phi công duy nhất dùng MiG-17 bắn rơi nhiều máy bay Mỹ nhất trên thế giới (7 chiếc) được nhiều phi công kỳ cựu của Mỹ phải kính nể, thán phục.
Nhưng điều khiến đồng bào yêu mến ông nhiều nhất, lại là phần đời sau chiến tranh. Rời buồng lái, ông trở về làm một người nông dân chân chất: đôi chân trần, áo bà ba, cuốc trên vai… Người làng gọi ông thân thương là “Ông Bảy lúa”, “Ông Bảy ruộng”, như thể những chiến công trên trời cao chỉ là một phần của đời người còn điều ông chọn giữ lại là sự giản dị và bình yên.
Khi các mũi tiến công tiếp cận gần, những trận đánh giáp lá cà bắt đầu nổ ra. Không còn khoảng cách an toàn. Không còn tuyến sau, tuyến trước rõ rệt. Từng đoạn hào, từng ụ súng, từng miệng hầm trở thành điểm quyết đấu. Lựu đạn được sử dụng dày đặc. Bộc phá mở cửa mở. Súng tiểu liên, trung liên bắn ở cự ly rất gần. Có lúc hai bên giằng co nhau từng mét chiến hào trong nhiều giờ liền. Ban ngày địch phản kích, ban đêm ta tiến công lại. Cứ như vậy, trận địa bị cày xới không ngừng.
Thương vong tăng lên theo từng đợt. Có đại đội sau một trận đánh chỉ còn lại vài chục người. Nhưng điều đặc biệt là đội hình không tan rã. Những chiến sĩ còn lại lập tức tổ chức lại, tiếp tục giữ trận địa. Có chiến sĩ bị thương vẫn xin ở lại. Có người băng bó sơ rồi tiếp tục chiến đấu. Có tổ ba người giữ một đoạn hào đến người cuối cùng. Những câu chuyện ấy không phải huyền thoại – đó là sự thật được ghi lại trong ký ức của những người đã sống sót trở về.
Một cựu chiến sĩ từng nói: “Khi ấy không ai nghĩ mình là anh hùng. Chỉ nghĩ đơn giản: nếu mình lùi, đồng đội phía sau sẽ nguy hiểm. Thế là đứng lại.”
Sau nhiều đợt tiến công mà A1 vẫn chưa bị khuất phục hoàn toàn, Bộ Chỉ huy chiến dịch quyết định thực hiện một phương án táo bạo: đào đường hầm đặt bộc phá phá vỡ hệ thống phòng ngự từ lòng đất.
Nhiệm vụ được giao cho lực lượng công binh. Đây là công việc đặc biệt nguy hiểm. Hầm phải đào sâu, kín, bí mật, tránh bị phát hiện. Dụng cụ vẫn là cuốc, xẻng thủ công. Không gian hẹp, thiếu không khí, dễ sập. Mọi hoạt động diễn ra trong căng thẳng cao độ.
Đất đào lên được chuyển đi từng ít một, rải mỏng, ngụy trang cẩn thận. Tiếng đào phải được giảm tối đa. Có thời điểm, chiến sĩ phải nằm nghe tiếng động từ phía địch để xác định hướng đào tiếp.
Sau nhiều ngày đêm, đường hầm tiếp cận được vị trí dự kiến. Khối bộc phá lớn được đặt vào trung tâm cứ điểm.
Đêm 6/5/1954, khối bộc phá được kích nổ. Một tiếng nổ dữ dội làm rung chuyển cả đồi. Một phần hệ thống phòng ngự bị phá vỡ. Đó là tín hiệu cho đợt tổng công kích cuối cùng.
Ngay sau tiếng nổ, các mũi tiến công đồng loạt xung phong. Pháo binh ta bắn yểm trợ. Bộ binh từ nhiều hướng đánh thẳng vào các vị trí còn lại. Trận chiến diễn ra suốt đêm trong ánh lửa và khói.
Địch chống trả quyết liệt. Nhưng hệ thống phòng ngự đã bị phá vỡ cấu trúc. Các ổ đề kháng lần lượt bị tiêu diệt. Đến rạng sáng ngày 7/5/1954, quân ta làm chủ hoàn toàn Đồi A1.
Việc chiếm được A1 có ý nghĩa chiến thuật và tinh thần rất lớn. Tuyến phòng thủ trung tâm bị chọc thủng. Thế trận của đối phương sụp đổ nhanh chóng. Chiều cùng ngày, toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đầu hàng. A1 trở thành một trong những điểm đánh dấu thời khắc xoay chuyển cục diện.
Đằng sau bản đồ tác chiến và ký hiệu quân sự là những con người rất trẻ. Nhiều chiến sĩ đánh A1 khi tuổi đời chưa đến hai mươi. Có người rời mái trường, có người rời ruộng đồng, công xưởng. Họ đến chiến trường với hành trang giản dị: bộ quân phục, khẩu súng và niềm tin vào độc lập.
Trong ba lô có khi chỉ là mảnh giấy ghi địa chỉ nhà. Có người giữ bức ảnh mẹ. Có người mang theo lá thư người yêu. Có người hẹn ngày chiến thắng sẽ về. Nhưng không phải ai cũng trở lại. Có những tiểu đội gần như hy sinh toàn bộ. Có những người nằm lại trong lòng đồi, không còn tên tuổi rõ ràng. Họ góp phần vào chiến thắng bằng chính cuộc đời mình. Sự hy sinh ấy không ồn ào. Nhưng chính nó làm nên chiều sâu của lịch sử.
Ngày nay, Đồi A1 thuộc Quần thể Di tích Chiến trường Điện Biên Phủ – di tích quốc gia đặc biệt. Trên đỉnh đồi vẫn còn hố bộc phá lớn, hệ thống giao thông hào, hầm ngầm, lô cốt, dấu tích xe tăng và công sự. Nhiều đoạn được giữ gần nguyên trạng.
Du khách đến đây thường đi chậm lại. Không gian yên bình với cỏ xanh và gió núi khiến người ta khó hình dung nơi từng là “túi lửa”. Chính sự đối lập ấy tạo nên xúc cảm rất mạnh.
Nhiều đoàn học sinh, sinh viên, đoàn viên thanh niên đến tham quan, nghe thuyết minh, thắp hương tưởng niệm. Khi được nghe kể tại chính nơi sự kiện diễn ra, lịch sử trở nên sống động và chạm vào cảm xúc.
Không còn là con số, không còn là dòng chữ, mà là trải nghiệm.
Đồi A1 không chỉ là điểm du lịch lịch sử. Đây là một không gian giáo dục truyền thống. Một địa chỉ đỏ đúng nghĩa. Nơi mỗi bước chân là một lần nhắc nhớ về trách nhiệm.
Những câu chuyện thời hoa lửa ở A1 không chỉ nói về chiến thắng, mà nói về lựa chọn sống vì điều lớn hơn bản thân. Nói về tinh thần đồng đội. Về lòng trung thành với Tổ quốc. Về sức mạnh của ý chí khi con người tin vào lý tưởng.
Trong thời bình, chúng ta không còn cầm súng ra trận. Nhưng chúng ta có trách nhiệm khác: giữ gìn ký ức, lan tỏa giá trị, sống xứng đáng với sự hy sinh ấy.
Hơn 70 năm đã trôi qua. Đồi A1 vẫn ở đó trầm mặc, kiêu hãnh và bền bỉ cùng thời gian. Những triền cỏ xanh hôm nay đã phủ lên vết tích bom đạn năm xưa, nhưng ký ức lịch sử thì chưa bao giờ phai nhạt. Mỗi lớp đất nơi đây từng thấm mồ hôi và máu của những người lính trẻ. Mỗi đoạn giao thông hào, mỗi hố bộc phá, mỗi nền công sự còn lại đều như một chứng nhân lặng lẽ, nhắc con người hôm nay về cái giá rất thật của độc lập, tự do.
Khi đứng trên đỉnh đồi, nhìn xuống lòng chảo Điện Biên bình yên, khó ai có thể hình dung nơi này từng là tọa độ của lửa và thép, của giằng co sống còn, của những quyết định không có đường lùi. Chính sự đối lập giữa quá khứ khốc liệt và hiện tại thanh bình ấy làm cho giá trị của hòa bình trở nên sâu sắc hơn bao giờ hết. Hòa bình không phải điều tự nhiên mà có. Độc lập không phải món quà cho không. Mỗi trang sử sáng đều được viết nên từ hy sinh thầm lặng của biết bao con người bình dị.
Những câu chuyện thời hoa lửa ở Đồi A1 không chỉ để nhắc nhớ về một chiến thắng quân sự, mà còn để soi chiếu vào hiện tại, để mỗi người tự hỏi mình đang sống, đang làm việc và đang cống hiến như thế nào cho đất nước trong thời bình. Lòng biết ơn, nếu chỉ dừng ở cảm xúc, là chưa đủ; lòng biết ơn cần được tiếp nối bằng trách nhiệm, bằng hành động, bằng sự nỗ lực góp phần xây dựng và bảo vệ những giá trị đã được đánh đổi bằng máu xương.
Với thế hệ trẻ hôm nay, hành trình về với Đồi A1 không chỉ là một chuyến tham quan di tích, mà là một cuộc gặp gỡ với lịch sử sống. Nơi đó, quá khứ không nằm yên trong sách vở, mà hiện diện qua từng dấu tích, từng câu chuyện, từng nén hương tưởng niệm. Từ những địa chỉ đỏ như Đồi A1, tinh thần đoàn kết, ý chí tự cường và lòng tự hào dân tộc tiếp tục được khơi dậy và lan tỏa.
Đồi A1 là bản hùng ca không viết bằng mực, mà bằng sự hy sinh vả sẽ còn được kể mãi. Không chỉ để nhớ về ngày hôm qua, mà để nhắc nhở hôm nay và dẫn đường cho ngày mai: hãy sống xứng đáng với những người đã ngã xuống, và xứng đáng với hòa bình mà chúng ta đang có.



