Mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lần thứ hai ở mặt trận Quảng Nam – Đà Nẵng (20/12/1946)
Cuối năm 1946, nguy cơ chiến tranh xâm lược lan rộng trên phạm vi cả nước đã hiện rõ. Ngày 19/10/1946, Trường Chinh chủ trì Hội nghị Quân sự toàn quốc, đi đến nhận định mang tính quyết định: “Không sớm thì muộn, Pháp sẽ đánh ta và ta nhất định phải đánh Pháp”. Hội nghị xác định nhiệm vụ cấp bách là đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang, nâng cao cả trình độ quân sự và bản lĩnh chính trị, sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu mới.
Quảng Nam – Đà Nẵng: điểm nóng đầu cầu Khu V Trong thế trận chung ấy, Quảng Nam – Đà Nẵng giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Đây là cửa ngõ chiến lược nối Khu V, Trị Thiên và Hạ Lào, đồng thời có cảng biển, sân bay – nơi quân Pháp tập trung lực lượng và chuẩn bị mở rộng xâm lược. Theo dự báo, khi chiến tranh toàn quốc bùng nổ, Đà Nẵng sẽ là một trong những nơi đầu tiên diễn ra những trận đụng độ quyết liệt.
Để thống nhất chỉ đạo, Ủy ban Quân sự Quảng Nam – Đà Nẵng được thành lập, do Đàm Quang Trung làm Chỉ huy trưởng, Nguyễn Bá Phát làm Chỉ huy phó, Huỳnh Ngọc Huệ giữ cương vị Chính trị viên. Trung đoàn 96 được tăng cường Tiểu đoàn 19, một đơn vị đã dày dạn kinh nghiệm chiến đấu.
Tháng 11/1946, Quảng Nam và Đà Nẵng được sáp nhập thành một đơn vị hành chính – quân sự thống nhất. Tỉnh ủy mới được thành lập, Ủy ban Kháng chiến tỉnh nhanh chóng củng cố các chiến khu, tổ chức di chuyển tài liệu, máy móc ra ngoại thành, thực hiện quân sự hóa triệt để, chuẩn bị cho cuộc đối đầu không thể tránh khỏi.
Âm mưu và hành động của thực dân Pháp Về phía đối phương, từ đầu tháng 12/1946, quân Pháp liên tiếp tăng viện. Chúng đưa thêm bán lữ đoàn lê dương số 13, trung đoàn lê dương số 3, cùng xe tăng, pháo binh, đổ bộ vào cảng Đà Nẵng. Ngày 12/12/1946, đại tá Larèque tới Đà Nẵng, thiết lập Bộ Chỉ huy mặt trận, gấp rút hoàn tất công tác chuẩn bị chiến tranh.
Ngày 16/12/1946, Thường vụ Trung ương Đảng điện khẩn cho các địa phương miền Trung và miền Nam, yêu cầu sẵn sàng chiến đấu. Ba ngày sau, 19/12/1946, Ban Chỉ huy mặt trận Quảng Nam – Đà Nẵng nhận được điện của Trung ương: quân Pháp đã ra tối hậu thư đòi tước vũ khí lực lượng vũ trang ta; Chính phủ kiên quyết bác bỏ. Trung ương chỉ thị ngắn gọn nhưng dứt khoát: “Tất cả hãy sẵn sàng”.
Chiều cùng ngày, Võ Nguyên Giáp, Tổng Chỉ huy các lực lượng vũ trang, phát lệnh chiến đấu mở đầu bằng lời hiệu triệu: “Tổ quốc lâm nguy! Giờ chiến đấu đã đến!”.
Tiếng súng mở đầu ở Quảng Nam – Đà Nẵng Đúng 2 giờ sáng ngày 20/12/1946, theo mệnh lệnh của Ban Chỉ huy mặt trận, Tiểu đoàn 19 nổ súng tiến công sân bay Đà Nẵng. Ngay sau đó, các đơn vị khác đồng loạt đánh vào các vị trí của địch. Những cây cầu trọng yếu như Thủy Tú, Cẩm Lệ, Phong Lệ, cùng nhà máy điện bị phá hủy để cắt đứt giao thông, làm chậm bước tiến của quân Pháp. Nhân dân trong thành phố nhanh chóng tản cư triệt để, nhường địa bàn cho chiến đấu.
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lần thứ hai tại mặt trận Quảng Nam – Đà Nẵng chính thức bắt đầu, hòa nhịp cùng cả nước bước vào cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Dù tương quan lực lượng hết sức chênh lệch về vũ khí, trang bị và kỹ thuật, quân và dân địa phương đã chiến đấu với tinh thần quả cảm phi thường. Suốt hơn một tháng ròng, các mũi tiến công của địch liên tiếp bị chặn đánh, tiêu hao sinh lực, buộc chúng phải co cụm trong thành phố.
Ý nghĩa và sự ghi nhận Nhờ sự kiên cường ấy, quân dân Quảng Nam – Đà Nẵng đã giam chân một bộ phận quan trọng lực lượng địch, góp phần làm thất bại âm mưu “tốc chiến, tốc thắng” của thực dân Pháp, tạo điều kiện cho cả nước có thời gian chuyển sang chiến tranh lâu dài.
Đại diện Trung ương Đảng và Chính phủ, Phạm Văn Đồng đã biểu dương mặt trận Đà Nẵng là “một trong những mặt trận đánh mạnh nhất, dẻo dai nhất so với toàn quốc” và trân trọng trao tặng quân dân nơi đây lá cờ thêu hai chữ “GIỮ VỮNG” – phần thưởng xứng đáng cho tinh thần chiến đấu bất khuất, mở đầu trang sử hào hùng của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lần thứ hai.



