Mở đường Hồ Chí Minh – Quyết định lịch sử của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh
NGUYỄN THỊ ÁNH TUYẾT - K13E.GDTH
Cuối những năm 1950, sau Hiệp định Genève năm 1954, đất nước tạm thời bị chia cắt thành hai miền. Miền Bắc bước vào công cuộc khôi phục kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội và trở thành hậu phương của cách mạng cả nước; trong khi tại miền Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm tiến hành đàn áp, khủng bố phong trào cách mạng. Trước tình hình đó, yêu cầu giữ vững sự lãnh đạo, duy trì liên lạc giữa Trung ương với chiến trường và tăng cường chi viện cho cách mạng miền Nam ngày càng trở nên cấp thiết. Trên cơ sở chủ trương của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương, việc xây dựng một tuyến chi viện chiến lược từ miền Bắc vào miền Nam đã trở thành một quyết định có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với cách mạng Việt Nam.
Ngày 5 tháng 5 năm 1959, Trung tướng Nguyễn Văn Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, thừa lệnh Bộ Chính trị giao cho Thượng tá Võ Bẩm tổ chức “Đoàn công tác quân sự đặc biệt”, làm nhiệm vụ mở đường, vận chuyển hàng quân sự vào chiến trường, đưa đón cán bộ, bộ đội và chuyển công văn, tài liệu giữa hai miền. Đến ngày 19 tháng 5 năm 1959, Thường trực Tổng Quân ủy chính thức giao nhiệm vụ cho Đoàn mở đường Trường Sơn, trước mắt vận chuyển một số hàng quân sự theo yêu cầu của Liên khu 5 và tổ chức đưa 500 cán bộ vào chiến trường làm nòng cốt xây dựng lực lượng chủ lực. Ngày 19 tháng 5 năm 1959 sau này trở thành Ngày truyền thống của Đoàn 559 – Bộ đội Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh. Đến ngày 12 tháng 9 năm 1959, Bộ Quốc phòng ra quyết định chính thức thành lập Đoàn 559.
Những người lính đầu tiên nhận nhiệm vụ hiểu rằng trước mắt họ không phải là một con đường có sẵn, mà là một tuyến đường phải được tìm kiếm, mở từng bước giữa núi rừng Trường Sơn. Đầu tháng 6 năm 1959, lực lượng khảo sát bắt đầu từ Khe Hó, một thung lũng ở phía tây Vĩnh Linh, rồi bí mật tìm đường về phía Nam. Địa hình hiểm trở, rừng núi dày đặc, sông suối chia cắt, trong khi đối phương luôn tăng cường kiểm soát khiến nhiệm vụ mở đường trở nên vô cùng gian nan. Những người lính phải tuân thủ nghiêm ngặt yêu cầu giữ bí mật, với phương châm hoạt động được nhắc đến là “đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”. Từ Khe Hó, những tuyến giao liên, vận tải đầu tiên dần được hình thành. Ngày 13 tháng 8 năm 1959, Tiểu đoàn 301 đã đưa chuyến hàng đầu tiên vượt qua Đường 9 và bàn giao cho Liên khu 5. Đó là một chuyến hàng nhỏ nếu so với quy mô vận chuyển về sau, nhưng lại mang ý nghĩa mở đầu cho một tuyến chi viện chiến lược kéo dài suốt 16 năm.
Từ những lối mòn ban đầu, đường Trường Sơn từng bước được mở rộng thành một hệ thống giao thông quân sự quy mô lớn. Nếu những ngày đầu, hàng hóa chủ yếu được vận chuyển bằng gùi thồ và đi bộ, thì về sau, các tuyến đường cơ giới được mở, cầu đường được xây dựng, hệ thống kho tàng, bến bãi, trạm giao liên và binh trạm được hình thành. Cùng với đường bộ, lực lượng Trường Sơn còn tổ chức vận tải đường sông, xây dựng đường ống xăng dầu, bảo đảm thông tin liên lạc, sửa chữa xe máy, cứu chữa thương binh và tổ chức lực lượng phòng không bảo vệ tuyến. Từ một tuyến đường bí mật, Trường Sơn dần trở thành một hệ thống hậu cần – vận tải chiến lược có quy mô lớn, hoạt động trên địa bàn rộng và đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ khác nhau.
Nhưng con đường ấy không bao giờ được bình yên. Khi nhận thấy tuyến chi viện từ miền Bắc có ý nghĩa ngày càng lớn đối với chiến trường miền Nam, Mỹ và chính quyền Sài Gòn liên tục tìm cách đánh phá, ngăn chặn. Máy bay trinh sát, máy bay ném bom và nhiều loại phương tiện chiến tranh được sử dụng để phát hiện đường sá, kho tàng, bến bãi và các đoàn vận tải. Trên mặt đất, đối phương tổ chức các hoạt động biệt kích, thám báo và hành quân nhằm đánh phá những khu vực trọng yếu trên tuyến. Có những đoạn đường vừa được sửa chữa xong lại bị bom phá hỏng; những cây cầu bị đánh sập phải được khôi phục trong thời gian ngắn nhất; những đoàn xe phải tranh thủ từng giờ để đưa hàng hóa vượt qua trọng điểm. Vì thế, mỗi mét đường trên Trường Sơn không chỉ là thành quả của lao động mà còn là kết quả của một cuộc chiến đấu dai dẳng để giữ cho tuyến chi viện không bị đứt đoạn.
Trong cuộc chiến ấy, lực lượng làm nên đường Trường Sơn không chỉ có những người lính vận tải. Đó còn là bộ đội công binh mở và sửa đường, bộ đội phòng không bảo vệ các trọng điểm, lực lượng thông tin giữ liên lạc, quân y cứu chữa thương binh, những người làm nhiệm vụ kho tàng và giao liên, cùng đông đảo thanh niên xung phong và nhân dân trên tuyến. Mỗi người đảm nhiệm một công việc khác nhau nhưng đều hướng tới một mục tiêu: giữ cho tuyến chi viện chiến lược luôn thông suốt. Chính vì vậy, Bộ đội Trường Sơn dần phát triển thành một lực lượng binh chủng hợp thành có quy mô lớn, hoạt động trên một địa bàn rộng lớn và thực hiện nhiều nhiệm vụ từ vận tải, công binh, phòng không đến bảo đảm hậu cần và phối hợp chiến đấu.
Cùng với sự phát triển của chiến tranh, quy mô của tuyến Trường Sơn cũng không ngừng mở rộng. Đường Hồ Chí Minh không còn chỉ là một tuyến độc đạo xuyên Trường Sơn mà trở thành một mạng lưới gồm nhiều tuyến ngang, tuyến dọc, các binh trạm, kho tàng, bến bãi và đường cơ động. Từ hệ thống ấy, lực lượng và vật chất được đưa đến nhiều chiến trường ở miền Nam, đồng thời phục vụ nhiệm vụ phối hợp với cách mạng Lào và Campuchia. Đến đầu năm 1974, Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã phát triển đến quy mô rất lớn, với nhiều sư đoàn, trung đoàn binh chủng, lực lượng phòng không và hàng vạn phương tiện vận tải. Toàn tuyến có hơn 10.000 xe vận tải các loại, cho thấy sự phát triển vượt bậc từ những ngày đầu chỉ có những đoàn người gùi hàng xuyên rừng.
Vai trò của đường Trường Sơn đặc biệt nổi bật trong những năm cuối của cuộc kháng chiến. Từ năm 1971 đến năm 1975, Bộ đội Trường Sơn vừa bảo đảm vận chuyển, vừa trực tiếp chiến đấu bảo vệ tuyến đường, đồng thời trở thành lực lượng hậu cần chiến lược và nơi xuất phát của nhiều đơn vị chủ lực. Tuyến đường phục vụ các chiến dịch lớn như Đường 9 – Nam Lào năm 1971, cuộc tiến công chiến lược năm 1972, Chiến dịch Đường 14 – Phước Long cuối năm 1974 và đầu năm 1975, rồi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Đường Trường Sơn lúc này thực sự trở thành một trong những hệ thống hậu cần chiến lược trực tiếp phục vụ các chiến trường và chiến dịch lớn.
Mùa Xuân năm 1975, khi thời cơ chiến lược xuất hiện, yêu cầu cơ động lực lượng và vật chất vào chiến trường được đẩy lên mức cao nhất. Sau thắng lợi của Chiến dịch Tây Nguyên, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định chuyển sang tổng tiến công trên toàn chiến trường, tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam trong năm 1975. Những tuyến đường Trường Sơn khi ấy trở thành những mạch vận tải quan trọng phục vụ quá trình tập trung lực lượng cho các chiến dịch liên tiếp. Bộ đội Trường Sơn tổ chức các chiến dịch vận chuyển với quy mô lớn, bảo đảm cơ động lực lượng, vũ khí, đạn dược, nhiên liệu và các loại vật chất cần thiết cho các hướng chiến trường.
Ngày 26 tháng 4 năm 1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh chính thức bắt đầu. Từ nhiều hướng, các quân đoàn chủ lực tiến về Sài Gòn. Phía sau những đoàn quân ấy là một hệ thống hậu cần đã được xây dựng qua 16 năm trên dãy Trường Sơn. Những con đường từng được mở bằng cuốc, xẻng và đôi chân của những người lính năm 1959 giờ đây đã trở thành những tuyến cơ động phục vụ một cuộc tổng tiến công có quy mô lớn. Trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, xe tăng và bộ binh Quân Giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập, Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất.
Nhìn lại chặng đường từ năm 1959 đến mùa Xuân năm 1975, quyết định mở tuyến chi viện chiến lược qua Trường Sơn là một quyết định có ý nghĩa lịch sử đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đường Hồ Chí Minh không chỉ nối liền hậu phương miền Bắc với tiền tuyến miền Nam, mà còn tạo nên một hệ thống hậu cần chiến lược có khả năng vận chuyển con người và vật chất với quy mô ngày càng lớn, góp phần tạo nên sức mạnh cho các chiến trường và các chiến dịch quyết định. Đằng sau con đường ấy là trí tuệ tổ chức, ý chí chiến đấu và sự hy sinh của hàng vạn cán bộ, chiến sĩ, thanh niên xung phong và nhân dân.
Vì thế, khi nhắc đến đường Hồ Chí Minh – đường Trường Sơn, người ta không chỉ nhắc đến một tuyến giao thông quân sự trong chiến tranh. Đó là biểu tượng của ý chí mở đường và giữ đường trong những năm tháng khốc liệt nhất của lịch sử dân tộc. Từ Khe Hó năm 1959 đến những đoàn quân tiến vào Sài Gòn năm 1975 là một chặng đường 16 năm được nối bằng mồ hôi, công sức và sự hy sinh của biết bao thế hệ. Con đường ấy đã góp phần đưa sức người, sức của từ hậu phương ra tiền tuyến, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và ngày đất nước thu về một mối.



