Cựu chiến binh

MỞ ĐƯỜNG LÀM ĂN TẬP THỂ – HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP TRÊN CÁC PALEI CHĂM NINH PHƯỚC (1978 – 1981) DƯỚI GÓC NHÌN ĐỒNG CHÍ TRẦN THANH SƠN

Khánh Hòa30/09/2026Phạm Thanh Mân ((NT) Xã Ninh Phước)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

sau khi vết thương chiến tranh dần lành lặn qua hai năm 1975 – 1976 và ruộng đất đã về tay người cày, Đảng bộ huyện lại đứng trước một cuộc chuyển mình mang tính bước ngoặt: đưa người nông dân bước vào con đường làm ăn tập thể.

Làm hợp tác xã ở miền xuôi đã khó, làm ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số với những thiết chế dòng họ mẫu hệ, phong tục palei ngàn đời của bà con Chăm lại càng đòi hỏi sự tinh tế, kiên trì và tôn trọng bản sắc bản địa. Chúng tôi hiểu rằng: không thể dùng mệnh lệnh hành chính giản đơn hay gượng ép, mà phải để bà con tận mắt thấy được lợi ích của bờ vùng bờ thửa, của chiếc máy cày, con mương thủy lợi Kênh Chàm, Kênh Nam thì nếp làm ăn mới mới bén rễ vững bền.

1. Luồng gió mới từ Chỉ thị 43 và dấu ấn Đoàn cán bộ Trung ương

Tháng 4/1978, khi Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 43-CT/TW về việc đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp ở các tỉnh miền Nam, huyện nhà lập tức bắt tay vào triển khai với quyết tâm chính trị rất cao:

  • Sự tiếp sức chí tình từ Trung ương:

  • Nhận thức rõ tính chất đặc thù của vùng đồng bào Kinh – Chăm đan xen, Trung ương đã trực tiếp tăng cường cho huyện một đoàn công tác gồm 20 cán bộ có kinh nghiệm dày dặn trong xây dựng HTX nông nghiệp ở miền Bắc, do đồng chí Nguyễn Văn Lành làm Trưởng đoàn.

  • Đồng chí Nguyễn Văn Lành và đoàn cán bộ không ngồi trên cơ quan huyện chỉ đạo văn bản, mà tỏa ngay về các xã trọng điểm như Phước Hữu, Phước Thái, Phước Hậu, Phước Nam...

  • "Ba cùng" để thấu hiểu lòng dân:

    • Các đồng chí cán bộ tăng cường cùng cán bộ cơ sở của huyện đã xuống tận từng palei: ăn hạt cơm nấu từ gạo ruộng làng Chăm, ngủ trên sàn nhà cùng bà con, học từng câu chào hỏi bằng tiếng Chăm.

  • Họ kiên trì gặp gỡ các vị Cả Sư, bô lão, trưởng tộc để lắng nghe tâm tư; giải thích rõ: Vào HTX không phải là mất đất, mất bò, mà là gom sức người, gom trâu cày lại để cùng đắp đập, nạo mương, đưa máy móc về giải phóng sức lao động cho đôi vai trần của bà con.

  • 2. Vừa làm vừa rút kinh nghiệm: Từng bước chuyển từ Tổ vần công lên Hợp tác xã

    Chúng tôi xác định bước đi phải hết sức thận trọng, chắc chắn, lấy hiệu quả sản xuất làm thước đo thuyết phục:

    • Kế thừa thành quả chia ruộng đất 1975 – 1976:

    • Nền tảng vững chắc nhất để thành lập HTX chính là việc huyện đã hoàn thành điều chỉnh 3.167 ha ruộng đất cho hơn 6.000 hộ nông dân nghèo và duy trì hiệu quả 227 tổ vần đổi công đoàn kết từ trước.

  • Từ việc đổi công gặt hái mùa vụ, bà con Chăm dần quen với việc phối hợp lao động tập thể, tương trợ lẫn nhau khi gieo sạ, làm cỏ.

  • Tổ chức từ thấp đến cao:

    • Bước đầu, các xã cho thành lập các tập đoàn sản xuất (hình thức hợp tác bậc thấp) để quản lý tư liệu sản xuất chủ yếu và điều hành khâu tưới tiêu, cày bừa.

  • Khi tư tưởng bà con đã thông suốt, quy chế quản lý dần hoàn thiện, các tập đoàn sản xuất vững mạnh được nâng dần lên thành các Hợp tác xã nông nghiệp quy mô thôn, liên thôn.

  • Tại các vùng Chăm như Hữu Đức, Hậu Sanh, Chất Thường, Vĩnh Thuận, Văn Lâm..., công tác kiểm kê trâu bò cày kéo, nông cụ, phân định bờ thửa được tiến hành công khai, dân chủ, có sự chứng kiến và đồng thuận của các bô lão dòng họ.

  • 3. Quả ngọt bước đầu: 8 Hợp tác xã vùng Chăm ra đời (1981)

    Đến cuối năm 1981, sau hơn ba năm bền bỉ kiên trì bám dân, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp toàn huyện đã đạt được những con số đầy ấn tượng:

    • Quy mô phong trào toàn huyện: Toàn huyện đã xây dựng và đưa vào vận hành 40 Hợp tác xã và 70 tập đoàn sản xuất, thu hút đông đảo nông dân Kinh – Chăm tham gia làm ăn tập thể.

  • Điểm sáng 8 HTX vùng đồng bào Chăm:

    • Riêng trong vùng đồng bào Chăm, đã thành lập được 8 Hợp tác xã nông nghiệp.

  • Đây là những "pháo đài kinh tế mới" ngay tại các palei trù phú. Lần đầu tiên, bà con Chăm cùng nhau nghe tiếng kẻng báo hiệu ra đồng vào mỗi sáng sớm; thanh niên Chăm được cử đi đào tạo kỹ thuật lái máy cày bông sen, học cách ủ phân xanh, phân chuồng theo kỹ thuật mới.

  • Hệ thống mương dẫn từ Kênh Chàm, Kênh Nam được các xã viên HTX cùng nhau nạo vét thông suốt, dẫn nước ngọt tưới đẫm những chân ruộng hai vụ lúa năng suất cao, đẩy lùi dần tập quán canh tác nhờ nước trời bấp bênh thuở trước.

  • Ý NGHĨA LỊCH SỬ BẤT TỬ

    Chiêm nghiệm lại giai đoạn mở đầu 1978 – 1981 của phong trào hợp tác hóa nông nghiệp vùng Chăm, người cộng sản tiền bối Trần Thi luôn khẳng định:

    Đó là thắng lợi rực rỡ của sự kiên trì đường lối quần chúng và chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng:

    1. Đưa nếp sống mới vào nếp làng xưa: Việc đồng bào Chăm tự nguyện gia nhập 8 HTX nông nghiệp là một cuộc cách mạng tư tưởng thực sự. Chúng ta đã thành công khi dung hòa được phương thức tổ chức sản xuất tập thể tiên tiến với cấu trúc văn hóa, tín ngưỡng đặc thù của buôn làng Chăm cổ.

  • Đặt nền móng cho thời kỳ khoán mới: Những khó khăn, bỡ ngỡ và cả những kết quả đạt được từ 40 HTX và 70 tập đoàn sản xuất giai đoạn này chính là thực tiễn sống động nhất, tạo tiền đề để huyện nhà bước tiếp vào giai đoạn 1981 – 1985: thực hiện Chỉ thị 100 của Ban Bí thư về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động, thổi bùng sức sống mới trên đồng ruộng quê hương Ninh Phước.

  • Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn
    MỞ ĐƯỜNG LÀM ĂN TẬP THỂ – HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP TRÊN CÁC PALEI CHĂM NINH PHƯỚC (1978 – 1981) DƯỚI GÓC NHÌN ĐỒNG CHÍ TRẦN THANH SƠN | Câu chuyện thời hoa lửa