Mở đường máu Quảng Trụ
Chiến tranh đã qua đi, bom đạn đã ngừng rơi trên đất nước ta hơn 40 năm nhưng những ký ức về cuộc kháng chiến vẫn còn vẹn nguyên trong tâm trí các cựu chiến binh ở làng Quảng Trụ thuộc thôn Đoàn Kết 1 (xã Buôn Triết, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk). Ai có dịp về thăm, được nghe chuyện “mở đường máu” của các cựu trinh sát sẽ cảm nhận được quá khứ hào hùng, oanh liệt của đất nước một thời máu lửa.
Cả làng chạy giặc
Bà Võ Thị Đỗ (SN 1940, ngụ thôn Đoàn Kết 1) kể: “Cuối năm 1965, quân Mỹ liên tục vào làng thăm dò, truy quét. Thấy người thì chúng bắn, chúng giết, không thấy ai thì chúng đốt, phá nhà, phá rẫy của bà con. Chúng tôi chỉ còn biết chạy trốn vào rừng ở trong những ngôi nhà dã chiến. Cứ thế, nơi này lộ thì bà con chạy trốn đi nơi khác.
Muốn làm gì cũng chờ đêm tối mới dám ra ngoài. Cán bộ nằm vùng về làng, bà con phân công mỗi nhà nuôi dấu cán bộ vài ngày, dân ăn gì cán bộ ăn đó. Không có cơm ăn, chỉ có đọt dừa, măng luộc, chuối non, môn nước, thấy gì ăn được thì chúng tôi ăn tạm thứ đó. Không có muối, chúng tôi đốt rễ tranh làm muối ăn với rau luộc lấy sức qua ngày, chứ không hề biết đến cái no là gì”.
Còn cựu chiến binh Ôn Văn Hà (SN 1940, ngụ thôn Đoàn Kết 1) cho biết: “Mỗi lần bà con di tản, chúng tôi lại cùng nhau làm mấy chục mái nhà dã chiến trong rừng. Rồi đàn ông đi chiến đấu, canh gác…đàn bà, trẻ con dã gạo, vót trông phục vụ cách mạng. Có những người làm công tác định vận (vận động những người Việt đầu quân cho địch trở về với cách mạng) bị bắn chết”.
Cụ thể, đó là trường hợp gia đình ông Đặng Văn Thao, có mẹ là bà Phùng Thị Loan nuôi dấu cách mạng, hy sinh trong khi làm công tác địch vận. Điều đáng nói, hiện nay, ông Thao có 7 người con, trong đó có 3 người con dù đã lớn nhưng tâm thần không bình thường. Nhiều người nghi khả năng lớn do nhiễm chất độc da cam từ mẹ.
Chúng tôi đến thăm cụ Lê Văn Ngôn (SN 1937, ngụ thôn Đoàn Kết 1), trông dáng vẻ cụ hao gầy vì tuổi tác nhưng đôi mắt cụ vẫn sáng ngời niềm tự hào. Chúng tôi được biết, cụ là thương binh hạng 4/4, vừa được người nhà đưa đi khám chữa bệnh ở TP. Hồ Chí Minh về. Tuy nhiên, ngồi tâm sự với chúng tôi, cụ vẫn không ngần ngại sẻ chia một cách say mê về những ngày chiến đấu đầy hiểm hách trong bom đạn.
Cụ Ngôn từng nhiều năm là đội trưởng đội trinh sát A2H10. Nhớ về quá khứ hào hùng, cụ bồi hồi kể: “Theo chính sách di dân từ Quảng Nam vào đây sinh sống, được sự soi sáng của cách mạng, năm 1963, tôi với nhiệm vụ là đội trưởng đội trinh sát A2H10, cùng khoảng 30 đồng chí, đồng đội chúng tôi luôn xung phong đi đầu “mở đường máu” cho quân ta tiến vào mặt trận”.
Cụ Ngôn cho biết, trong đó, khốc liệt nhất là chiến dịch Mậu Thân 1968 và trận chiến mang tính chất một mất một còn mùa Xuân 1975. Trong chiến dịch Mậu Thân, nhận thấy đây là thời cơ chiến lược, dù Đảng ta đã dồn lực đánh một trận quyết liệt, mang tính bước ngoặt, nhưng do tương quan lực lượng giữa ta và địch quá lớn nên hiệu quả không cao.
“Tôi bị thương nặng, các đồng chí, đồng đội hy sinh nhiều. Sau 3 tháng dưỡng thương trong rừng trở về, tôi kiên quyết cùng đồng đội tiếp tục cầm súng. Sau ngày giải phóng TP.Buôn Ma Thuột, quân ta tổ chức lực lượng chiến đấu tại huyện Lắk (khi ấy gọi là quận Lạc Thiện), ngăn chặn không cho địch tháo chạy về Đà Lạt. Khoảng 8h, ngày 20/3, quân ta đã hoàn toàn làm chủ huyện Lắk, bắt sống nhiều tên địch, thu giữ nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng khác”, cụ Ngôn kể.
Đại thắng mùa Xuân 1975 có ý nghĩa lớn lao, là niềm tự hào của dân tộc ta. Còn riêng đối với cụ Ngôn thì là một sự thỏa lòng. Sau ngày giải phóng, cụ Ngôn tiếp tục cống hiến cho cách mạng, làm xã đội trưởng xã Liên Sơn nhận nhiệm vụ truy quét Fulro.



