MỞ TRỤC DỌC ĐƯỜNG KÍN 24 MÙA MƯA NĂM 1971
Sinh năm: 1940 Quê quán: Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An Thường trú: Nhà số 106/N12, K9, Ngõ 49, đường Nguyễn Khoái, Q. Hai Bà Trưng, Hà Nội Điện thoại: 04.38214533 - 0948 517308 Nguyên cán bộ Viện Thiết kế Bộ GTVT biệt phái Nguyên Tổ trưởng Đội Khảo sát 1, Trợ lý Phòng Thiết kế Cục Tham mưu Công binh Nguyên Trưởng phòng Viện Khảo sát Thiết kế Binh đoàn 12
| Chủ trương làm đường kín ô tô chạy ngày của Bộ Tư lệnh Trường Sơn được đánh giá là quyết định thông minh, táo bạo, tổ chức thực hiện kiên quyết, đồng bộ, địch hoàn toàn bị bất ngờ, đã góp phần to lớn vào thắng lợi quyết định ở chiến trường (BBT). Đến hết mùa khô năm 1970 - 1971, mạng đường Trường Sơn đã có 3 trục dọc từ Mụ Dạ vào đến chiến trường, 4 trục vượt khẩu và nhiều trục ngang sang phía đông với khoảng 7000 ki lô mét đường ôtô. Thế trận cầu đường đủ sức cho vận tải chiến lược thời kỳ đó. Địch đã dùng mọi thủ đoạn đánh phá ngăn chặn, tăng cường hỏa lực, cho các loại máy bay cường kích, dùng B52 rải thảm cả vùng đất đai rộng lớn tìm kiếm huỷ diệt kho tàng, sinh lực, dùng trinh sát điện tử phát hiện mục tiêu, thậm chí huy động lục quân, không quân, pháo binh, xe tăng, xe bọc thép mở chiến dịch Lam Sơn - 719 đánh chiếm vùng đường 9 hòng chặt đứt ngang đường tiếp tế của ta. Nhưng tất cả âm mưu của chúng đều bị thất bại thảm hại. Không quân Mỹ cải tiến máy bay C130, trang bị hệ thống khí tài điện tử khuếch đại ánh sáng mờ, máy cảm ứng nhiệt và các máy tính chuẩn xác, có thể phát hiện được phương tiện của ta từ tia lửa điện ở động cơ xe, máy. Chúng dùng AC130 đã cải tiến săn lùng và khi bắt được mục tiêu dùng pháo 20 m/m, sau đó cải tiến thành 40 m/m bắn phá vào các đoàn xe, thậm chí từng chiếc xe chạy ban đêm. Thời gian này chúng gây cho ta nhiều tổn thất nặng nề về phương tiện, người và hàng hoá, thiệt hại đã tăng gấp 2,5 lần cùng kỳ năm trước. Sau nhiều lần thử nghiệm thực tế, các cấp chỉ huy từ Bộ Tư lệnh đến các cấp, các cơ quan giúp việc cùng đi với lái xe trên đường dài vận tải, đều nhận xét thấy rằng AC130 có trang bị tia hồng ngoại chỉ phát hiện được lúc xe nổ máy chạy ban đêm. Thống nhất được nhận xét quan trọng chính xác đó, dựa vào địa hình, địa vật, địa thế của núi rừng Trường Sơn, tại hội nghị quân chính tháng 4 năm 1971, Bộ Tư lệnh quyết định xây dựng đường kín - đổi mới phương thức vận tải cho xe chạy ban ngày. Công tác chuẩn bị được triển khai khẩn trương: Các binh trạm tìm tuyến đường kín phù hợp trong địa giới mình phụ trách, Cục Tham mưu Công binh nghiên cứu hướng tuyến chung trên bản đồ từ đường 18 tây Quảng Bình đến phía nam Sê San, chỉ đạo các binh trạm những điểm nối tiếp nhau giữa các binh trạm. Nhất thiết phải bảo đảm nguyên tắc toàn tuyến đường phải kín, xe chạy được ban ngày, có vị trí tránh xe, nơi đặt kho tàng, vị trí tập kết xe. Để đảm bảo thời gian hoàn thành, phải huy động lực lượng vừa thiết kế, vừa thi công, trong mùa mưa, đầu mùa khô, vào tháng 10 năm 1971 phải đưa vào sử dụng. Do yêu cầu yếu tố đường phải kín nên chấp nhận tuyến đường có thể vòng vèo dài hơn. Lực lượng gồm tất cả các đơn vị công binh trực thuộc, các tiểu đoàn công binh binh trạm, 10.000 dân công hoả tuyến thời hạn 3 tháng đến 1 năm của các tỉnh miền Bắc, 86 máy ủi, 108 xe ben, máy phát điện... được điều động phục vụ chiến dịch. Bộ Tư lệnh thành lập "Phòng Dân công" thuộc Cục Tham mưu Công binh để quản lý dân công. Công tác khảo sát tìm tuyến đường giao cho đơn vị thi công tự lo trong phạm vi được giao, đội Khảo sát 1 thuộc Cục Tham mưu Công binh bảo đảm cho các đơn vị không có lực lượng khảo sát và những đoạn khó trên toàn tuyến. Dân công hoả tuyến được thành lập cấp tiểu đoàn phối thuộc cho các trung đoàn công binh phía bắc đường 9, có tăng cường sĩ quan công binh chỉ huy, các huyện uỷ viên, chi uỷ viên của địa phương, có dân công được bố trí giữ chức chính trị viên tiểu đoàn, đại đội. Với khí thế được phát động, các đơn vị được phân công vào chiến dịch mở "đường kín 24" như sau: Trung đoàn 6 có đoàn "nữ Thanh niên Xung phong 104 Hai Giỏi tỉnh Quảng Bình" phối thuộc mở đường 69 điểm đầu từ Km 6 đường 18 đến ngã ba Quan Ta Long dài 64 ki lô mét. Đường đảm bảo kín rộng 4 mét, độ đốc dưới 12%, rải đá 47 ki lô mét trên đoạn biên giới Việt - Lào xe chạy được cả hai mùa mưa nắng. Trung đoàn 217 thi công từ Quan Ta Long đến đường 32 dài 90 ki lô mét, thi công từ tháng 7 năm 1971 có máy húc xe ben tăng cường, sau hơn 1 tháng hoàn thành kể cả việc rải đá một số đoạn nền yếu. Đội khảo sát 1 Cục Tham mưu Công binh bố trí lực lượng khảo sát và giao tài liệu cho cả hai Trung đoàn 6 và 217. Trung đoàn 10 mở đường dài 90 ki lô mét từ nam Sê Băng Hiêng đến Lê Tiêng. Đoạn phía nam từ sông Sê La Nông vào Lê Tiêng có khối lượng lớn phải làm 50 ki lô mét đường công vụ qua sông Sê La Nông rộng 180 mét, lòng chủ sâu 2 mét đài 15 mét để đưa hai máy húc sang sông trước mưa lũ lớn nhằm chia ra hai mũi thi công. Sau 5 tháng Trung đoàn đã hoàn thành khối lượng đảm bảo đường kín đủ tiêu chuẩn. Ngày 25 tháng 11 năm 1971, Tư lệnh quân Giải phóng Trần Văn Trà đi ôtô từ bắc vào nam ban ngày thông suốt. Về đến Bộ Tư lệnh Miền, đồng chí đã điện ra Bọ Quốc phòng đề nghị thưởng Huân chương Quân công hạng Ba cho Trung đoàn 10. Sau khi quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với Bạn giải phóng Sa La Van, Trung đoàn 10 được giao mở đường kín tiếp từ nam Sa La Van qua Phu Xa Nan, luồn qua khu rừng già tiếp nối với Bản Phồn trên đường 23 dài 41 ki lô mét, có 14 ki lô mét đèo dốc, tuy nhiên vẫn đảm bảo kín đáo. Các binh trạm phía Bắc, những năm trước, khi làm các đường vòng đường tránh các đơn vị công binh đã có ý thức tìm đường kín. Nay được Bộ Tư lệnh giao làm đường kín trong mùa mưa 1971, các binh trạm chấp hành nghiêm túc đã hoàn thành được các tuyến đường sau đây: Binh trạm 14: đường 20K dài 34 ki lô mét nối với đường QZ25 đến Lùm Pùm được rải đá 12 ki lô mét. Binh trạm 31: đường từ kho C2 đến đường 9 dài 126 ki lô mét. Binh trạm 9: đường Pha Băng Nưa dài 9 ki lô mét hoàn thành ngày 20 tháng 10 năm 1971. Các binh trạm khác phía nam đường 9 cũng tự mình làm các đoạn đường kín ngắn nối tuyến kín 24 với các trục dọc 128, 22, và trục 23. Sau khi đường kín hoàn thành, Bộ Tư lệnh Trường Sơn quyết định thành lập thêm 5 binh trạm mới mang phiên hiệu 29, 30,45, 46, 47 để quản lý khai thác và ngay sau đó đã tổ chức lực lượng công binh quản lý đường trong phạm vi phụ trách. Binh trạm 29: Bảo đảm từ Km 0 - Km 140. Tiểu đoàn 69 và một tiểu đoàn dân công tăng cường. Binh trạm 30: Tiểu đoàn 53 bảo đảm từ ngã ba đường 36 đến Km 207 bắc Sê La Nông. Binh trạm 45: Biên chế Tiểu đoàn 162, tăng cường có thời hạn Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn 10, bảo đảm bắc Sê La Nông đến Km 299 Lê Tiêng, xây dựng khu trú đậu xe dài 2 ki lô met từ Km 289 đến 291. Binh trạm 46: Tiểu đoàn 161, từ Bản Phồn đến S.9, ngầm 1 đường 22 đến Km 4 Tăng Cát C. Binh trạm 47: Tiểu đoàn 1, từ dường 78 nối đường 22A vào kho K4 và đường 24 từ Keng Xay đến ngã ba đường 24. Các Binh trạm 37, 50, 51, 53 đã thành lập từ trước, quản lý đường kín qua địa bàn của mình. Các đơn vị công binh xây dựng được 5 cầu quân sự trên đường kín để xe chạy lấn mùa: đó là các cầu Nậm Ngo (58E)-tây Seng Phan, Rào Reng, Trà Ôn, Ta Hung, cầu nổi Keng Ly, nhiều cầu gỗ nhỏ cùng hệ thống ngầm đá trên các suối lớn nhỏ. Việc nguỵ trang giữ bí mật cầu, ngầm được xem là công tác thường xuyên. Để đảm bảo vận chuyển đúng cung độ, Bộ Tư lệnh chỉ đạo việc xây dựng khu trú đậu xe. Kích thước khu trú đậu xe dài 1 đến 2 ki lô mét, chiều rộng 1 ki lô mét, tuyệt đối kín đáo, có hầm hào đảm bảo cho 1 tiểu đoàn có biên chế 100 xe trú đậu tập trung. Lấy trục chính làm chuẩn, thiết kế 2 đường vòng hình số 8 để bảo đảm xe không phải quay đầu. Dọc đường vòng số 8 bố trí các đường xương cá cho xe đậu, mỗi xe cách nhau 20 mét. Trong khu trú đậu có trạm quan sát, có nhiệm vụ phát tín hiệu khi có máy bay. Binh trạm 32 xây dựng khu trú đậu xe bắc sông Sê Băng Hiêng, Binh trạm 30 xây dựng khu phía nam ngầm. Mỗi tiểu đoàn công binh có từ 4 đến 6 trạm chỉ huy giao thông tại các ngã ba, bến vượt, nơi ngã tư đường đều phải có bảng chỉ đường, đường không sử dụng phải rào lại. Đường kín có tên gọi là đường 24 điểm đầu từ đường 18, điểm cuối nam Sê San dài 740 ki lô mét. Xe chạy hoàn toàn ban ngày, địch không thể phát hiện được bằng bất cứ một thiết bị điện tử nào, kể cả các thiết bị có tia hồng ngoại hiện đại nhất được trang bị cho AC130. Đường 24 đã vô hiệu hoá hoàn toàn thủ đoạn đánh phá ngăn chặn đội hình xe chạy ban đêm của máy bay AC 130. Các đơn vị vào chiến dịch đúng mệnh lệnh đã giao ngày 15 tháng 5 năm 1971, kết thúc tháng 01 năm 1972. Trên tuyến đường có nhiều bãi trú đậu xe, kho tàng bố trí hợp lý, có đường ngang cơ động, nhiều đoạn có đường kín đôi, đội hình chạy xe liên tục không ách tắc, có trạm nghỉ, tại đây lái xe được phục vụ hậu cần chu đáo, giữ gìn sức khoẻ, tạo tâm lý tốt cho lái xe. Tốc độ xe chạy đảm bảo 15-20 km/giờ, chạy lấn sáng lấn chiều đạt 150-180 km/ngày. Mùa vận chuyển 1971- 1972 đạt thắng lợi đòn dã, vận chuyển được 160.000 tấn, đạt 131% kế hoạch, giao cho chiến trường đạt 120 - 200%, riêng cho Trị Thiên đạt 440%. Phát huy thắng lợi, các đơn vị công binh lại tiếp tục mở đường kín song song, chiều dài toàn hệ thống đường kín đạt được 3.400 ki lô mét vào cuối năm 1972. Đã nhiều năm tham gia mở đường chiến lược vào chiến trường, đến nay công binh Trường Sơn mới được chứng kiến một quang cảnh lý thú: Vào đầu mùa khô cuối tháng 10 năm 1971 tại Tà xẻng, ngã ba ba nước Đông Dương, các đồng chí Lương Tường, Phan Bá Liêm, Lê Đức Thảo khảo sát những đoạn khó giúp Trung đoàn 217 và Trung đoàn 10 phía bắc đã gặp tổ đồng chí Dương Chân Vượng khảo sát đoạn phía nam do Trung đoàn 4 thi công tại toạ độ dự kiến. Từ quân số ban đầu là 32 nay còn lại 14, trong suốt 6 tháng trời mùa mưa, gian khổ lăn lộn trong rừng sâu, phần đông anh em đã bị sốt rét rừng, ốm đau phải quay về đại đội hoặc đang gửi lại các đơn vị thi công phía sau điều trị chăm sóc. Đã nắm chắc tình hình qua các đơn vị thi công, Cục trưởng Cục Tham mưu Công binh điện cho hai tổ khảo sát rút quân. Vào bản dân đổi được một ít thực phẩm cùng liên hoan, ngày hôm sau hai tổ chia tay. Chỉ cách Tà xẻng vài ki lô mét, các đơn vị thi công đã triển khai, ôtô vận chuyển lương thực thực phẩm tận đơn vị thi công. Lần đầu tiên đi trên chiếc xe Zin 157 trên con đường mình vừa mới khảo sát xong, giờ đây bắt gặp hình ảnh trái ngược thường lệ. Các đơn vị thi công đang hối hả mở đoạn cuối đường, củng cố hoàn thiện đoạn đường đã mở, xe vận tải đi giữa ban ngày, hàng hoá chất đầy kho tạm dọc đường. Bề rộng nền đường chỉ 3,50 mét, các vòm cây được giữ lại cao từ 4 đến 5 mét phủ kín làn đường. Những đoạn trống ngắn đơn vị trồng cây bổ sung, làm dàn mướp treo phong lan, nguỵ trang triệt để. Phong lan khu vực này thích hợp với mọi thời tiết. Những dò phong lan đủ màu sắc nở hoa trên dàn mướp kết bằng tre trồng cả gốc, lá tre còn tươi xanh, trông thật thơ mộng. Chuyến trở về đơn vị, như một truyện cổ tích thần kỳ, mới khảo sát xong tuyến đường ngày hôm trước thì chỉ vài hôm sau lại đã ngồi trên những chuyến xe vận tải trở về chính trên con đường mà mình đã luồn rừng lội suối vừa tìm, dài ngót ngàn cây số. Đường 24 là trục dọc duy nhất trên hệ thống đường Trường Sơn không bị địch phát hiện đánh phá, đã sử dụng trong cả thời gian dài suốt 4 năm phục vụ vận chuyển nhiều binh đoàn, hàng ngàn cán bộ dân chính đảng, vũ khí khí tài có cả xe tăng, trọng pháo... vào các chiến trường đến mùa Xuân năm 1975, góp phần quan trọng cho chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Lợi dụng được yếu tố địa hình địa vật vùng rừng núi, tổ chức mở được trục đường kín dài hàng ngàn ki lô mét từ hậu phương lớn miền Bắc ra tiền tuyến lớn là một chủ trương táo bạo dám nghĩ dám làm của người chỉ huy cao nhất, được sự đồng lòng của cán bộ chỉ huy, chiến sĩ cấp dưới, là sáng tạo chống ngăn chặn thành công nhất của cán bộ chiến sĩ công tác chiến đấu trên chiến trường Trường Sơn. |



