Bài viết

Mối tình bằng thơ của anh hùng, liệt sĩ, nhà báo Lê Đình Dư (1)

Liệt sĩ, nhà báo Lê Đình Dư, cựu phóng viên chiến trường Báo Quân đội nhân dân, sinh năm 1931 tại Thừa Thiên-Huế, hy sinh tháng 1-1968 tại Gio Linh, Quảng Trị. Hành động quả cảm, tư thế hiên ngang trong chiến đấu, tác nghiệp và sự hy sinh anh dũng của ông trên chiến trường đã trở thành biểu tượng, niềm tự hào lớn lao của các thế hệ nhà báo chiến sĩ...

Hà Tĩnh10/04/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Liệt sĩ, nhà báo Lê Đình Dư, cựu phóng viên chiến trường Báo Quân đội nhân dân, sinh năm 1931 tại Thừa Thiên-Huế, hy sinh tháng 1-1968 tại Gio Linh, Quảng Trị. Hành động quả cảm, tư thế hiên ngang trong chiến đấu, tác nghiệp và sự hy sinh anh dũng của ông trên chiến trường đã trở thành biểu tượng, niềm tự hào lớn lao của các thế hệ nhà báo chiến sĩ. Ông là nhà báo đầu tiên và duy nhất của Việt Nam cho đến nay được truy tặng danh hiệu cao quý Anh hùng LLVT nhân dân. Lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân cho liệt sĩ, nhà báo Lê Đình Dư vừa được Báo Quân đội nhân dân tổ chức trọng thể tại TP Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 40 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Phía sau tấm gương anh dũng đã được báo giới đề cập, nhà báo Lê Đình Dư còn là người anh hùng mang trái tim đa cảm, lãng mạn và nhân hậu.

Vợ chồng Lê Đình Dư - Hồ Thị Kim.

Kỳ 1: “Mật mã” tình yêu và bài thơ “Tượng đá”

Hẳn nhiều bạn đọc vẫn còn nhớ, trong chương trình giao lưu nghệ thuật “Đinh ninh lời Bác”, truyền hình trực tiếp trên sóng của Đài Truyền hình kỹ thuật số VTC vào tối 19-10-2010, nhân kỷ niệm 60 năm Ngày Báo Quân đội nhân dân ra số đầu tiên (20-10-1950 / 20-10-2010), có một vị khách mời đặc biệt. Bà là Hồ Thị Kim, 70 tuổi, vợ của liệt sĩ, nhà báo Lê Đình Dư. Dù đã chuẩn bị tâm lý từ trước nhưng khi lên giao lưu, bà Kim không kìm được dòng nước mắt, khóc nghẹn mỗi khi nhắc đến những câu chuyện không thể quên về mối tình với người chồng hết mực thủy chung, yêu thương vợ. Đó là những ký ức đầy chất thơ. Sau chương trình ý nghĩa ấy, chúng tôi thuyết phục bà Kim chia sẻ những tư liệu, ký ức về mối tình của hai ông bà, nhưng chưa được toại nguyện. Bà Kim hay xúc động, cứ mỗi lần nhắc đến chuyện xưa là bà lại nấc lên, nước mắt nghẹn ngào. “Chuyện tình yêu của cô và bác trai, có lẽ để sau này khi cô sang thế giới bên kia gặp lại bác ấy, các cháu hãy viết!”. Có lần bà nói với chúng tôi thế!

Lần này, sau buổi lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân cho liệt sĩ, nhà báo Lê Đình Dư, bà Kim không giấu được niềm tự hào, hạnh phúc. Được sự động viên, khích lệ của chị Lê Hồ Hương, con gái của liệt sĩ, nhà báo Lê Đình Dư và bà Hồ Thị Kim, bà mới đồng ý chia sẻ với chúng tôi về mối tình mà theo bà, đó là một tình yêu bằng thơ. “Từ ngày quen nhau cho đến trước khi hy sinh, anh ấy đã gửi cho tôi tổng cộng hơn 100 bức thư. Tất cả đều thể hiện bằng thơ. Anh ấy đã truyền tình yêu thơ cho tôi nên trong rất nhiều bức thư viết cho anh, tôi cũng thể hiện tình cảm, nỗi nhớ nhung bằng thơ” - bà tâm sự!

Những hình ảnh, kỷ vật thiêng liêng của một thời tuổi trẻ vẫn được bà Kim gìn giữ cho đến hôm nay và trao lại cho con gái. Từ ký ức của bà và những tư liệu gia đình chúng tôi tiếp cận được, cho thấy Lê Đình Dư là một nhà báo đa tài, nhiệt huyết, mang trong mình trái tim, khát vọng cống hiến, sẵn sàng hy sinh cho Tổ quốc. Tình yêu đôi lứa của ông như một bài tình ca lãng mạn, sâu lắng trong khúc tráng ca dạt dào tình yêu Tổ quốc của một nhà báo chiến sĩ!

Lê Đình Dư và Hồ Thị Kim bén duyên nhau năm 1961. Lúc bấy giờ, Hồ Thị Kim là nữ sinh năm thứ nhất, Khoa Địa, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, còn Lê Đình Dư là trung úy hải quân, được cử về Hà Nội học báo chí. Vào ngày 22-12 năm đó, Trung úy Lê Đình Dư được Trường Đại học Sư phạm Hà Nội mời đến nói chuyện cho giáo viên, sinh viên về truyền thống Quân đội nhân dân Việt Nam. Cô nữ sinh quê Đức Phổ, Quảng Ngãi theo gia đình tập kết ra Bắc mang theo nỗi nhớ biển cồn cào nên khi bắt gặp màu áo hải quân trên sân trường thì nôn nao khó tả. “Anh ấy nói giọng Huế, trầm ấm và rất truyền cảm. Nói chuyện về truyền thống quân đội nhưng anh đưa văn thơ, nghệ thuật cùng những câu chuyện sinh động về người chiến sĩ vào bài nói nên hấp dẫn lắm. Nữ sinh chúng tôi ai cũng thích thú, ấn tượng!” - bà Kim nhớ lại cái thuở ban đầu lưu luyến ấy!

Kết thúc buổi nói chuyện, sinh viên ùa đến vây quanh chàng sĩ quan hải quân để xin thơ. Chỉ trong chớp mắt, bao nhiêu bản thảo thơ anh mang theo đều được các nữ sinh “mượn” hết. Kim ngồi phía sau, khi chạy đến thì thơ trong tay chàng trung úy đã hết sạch. Không chịu thua, cô bám theo màu quân phục hải quân ra cổng. Khi chỉ còn thầy Uyên, Phó hiệu trưởng, bắt tay để tạm biệt Lê Đình Dư thì cô chạy đến. “Thầy cho em gặp đồng chí trung úy một chút được không ạ?” - Kim mạnh dạn. Thầy Uyên nhìn cô sinh viên tập kết, tươi cười: “Em gặp đi”. Ngày đó, những sinh viên miền Nam tập kết ra Bắc rất được các thầy, cô yêu quý, quan tâm hết mực. Đến trước mặt Lê Đình Dư, cô nữ sinh nằng nặc đòi thơ khiến anh lúng túng - “Tôi không còn bài nào cả. Chị ghi cho tôi địa chỉ, tôi sẽ gửi cho chị sau!”. Gọi bằng “chị” ư? Anh này có vẻ “đứng đắn”, “chỉn chu” quá đây! Cô nữ sinh tinh nghịch thoáng nghĩ và lấy ngay tờ giấy có đề cương môn Tâm lý giáo dục, lật mặt trái lên hí hoáy ghi vào đó dòng họ tên, địa chỉ.

Họ chia tay nhau!

Cô nữ sinh thấp thỏm chờ!

Bức ảnh cùng kiểu với ảnh có “mật mã” Hồ Thị Kim gửi tặng Lê Đình Dư. Ảnh chụp lại.

Ba ngày sau, Kim nhậnđược thư. LêĐình Dư chép lại cho cô tất cả các bài thơ mà anhđãđọc trong buổi nói chuyện. Thơ anh thiết tha tình yêu biển, nồng nàn nỗi nhớ quê hương và khát khao những cuộc lênđường vào chiến trường. Tâm hồn, tình cảm, lý tưởng sống tuổi trẻ của anh làm dậy lên trong trái tim trong trắng, hồn nhiên của cô nữ sinh những cảm xúc dạt dào. Cô viết thư cho anh! Họ viết thư cho nhau! Mỗi bức thư gửi cho Kim là một bài thơ. Trường Tuyên huấn Trung ương, nơi LêĐình Dư theo học báo chí chỉ cách trường của Kim chưađầy cây số. Thỉnh thoảng họ lại gặp nhau trong các buổi sinh hoạt của câu lạc bộ thơ sinh viên. Tình cảm ấy cứ lớn dần lên. Sau một năm quen nhau, anh ngỏ lời.

Niềm hạnh phúc được làm chồng, làm cha chưa được bao lâu thì Lê Đình Dư xung phong vào chiến trường. Anh như cánh chim bằng xông pha ở những nơi nóng bỏng nhất trên chiến trường ác liệt. Lời hẹn với vợ con, Tết Mậu Thân 1968 sẽ về ăn bánh chưng mãi mãi dở dang. Hơn nửa thế kỷ qua, mỗi lần đi viếng mộ chồng, trong hành trang của bà Kim không bao giờ thiếu những cặp bánh chưng và những bó hoa huệ trắng.

Mời bạn đọc tiếp tục đồng hành với những câu chuyện, ký ức cảm động về mối tình của người anh hùng Lê Đình Dư trong Nguyệt san Sự kiện và Nhân chứng số tới.

Đứng trước chàng trai xứ Huế rắn rỏi, tài hoa và lãng mạn, lớn hơn mình 10 tuổi, cô thấy mình bé nhỏ và không khỏi ngỡ ngàng. Kim không nhận lời, cũng không từ chối. Một tuần sau gặp lại nhau, cô lí nhí hỏi: “Anh đã có vợ hay người yêu chưa?”. Lê Đình Dư mỉm cười. Anh hiểu, trong sâu thẳm trái tim của cô gái mới lớn đang cần một niềm tin chắc chắn. Anh trả lời cô bằng một bài thơ có tựa “Tượng đá”, trong đó có những câu: “… Anh tìm mãi nhưng không thấy/ Sóng gió phũ phàng mưa dầm nắng dãi/ Đã san bằng hết thảy/ Chỉ còn lại… em ơi!...”. Cô nữ sinh yêu thơ hiểu ngay ý tứ của tác giả bài thơ, rằng anh đã từng có người yêu nhưng đã chia tay nhau rồi. Anh ngỏ ý muốn xin cô một tấm ảnh làm kỷ niệm. Kim gửi cho anh tấm ảnh cô chụp trong bộ quân phục hải quân. Đó là bức ảnh cô và nhóm bạn, vì nhớ biển nên đã mượn quân phục của các anh bộ đội hải quân chụp năm 16 tuổi. Phía sau bức ảnh, Kim tinh nghịch ghi những ký hiệu theo kiểu “mật mã” - một cách “chơi chữ” của sinh viên. Anh nhận thư, loay hoay mãi không giải được “mật mã” nên đã viết tiếp bài thơ “Những dòng chữ số” gửi lại. “… Từ trong những dòng chữ số/ Đêm đêm hiện một bài thơ/ Bao đêm tiếng hát quê hương vẫn về ru anh ngủ/ Bao đêm tiếng mẹ yêu thương vẫn dắt anh về quê cũ/ Đêm nay mẹ không dắt nữa/ Mẹ cười… mẹ chỉ ảnh em/ Nhà mẹ ở xa biển lắm/ Ai đem biển đến bên thềm…/ Anh thấy mơ về trong thực/ Em từ đâu em tới đây…”! Lời thơ chạm vào tình cảm thiêng liêng, sự đồng điệu trong nỗi nhớ biển quê hương cồn cào. Kim đã viết thư trả lời. Cô không giải mã hộ anh “mật mã” của tình yêu mà nói luôn với anh, cô đón nhận tình yêu của anh! Mối tình bằng thơ được vun đắp, cứ thế lớn dần lên.

- “Mật mã” mà cô gửi cho chú ngày đó là gì, thưa cô?

Chúng tôi hỏi bà Kim khi bắt gặp trong cuốn album bà lưu giữ mấy chục năm nay bức ảnh cô nữ sinh mặc quân phục hải quân. Bà Kim cho biết, đây là bức ảnh cùng kiểu với bức ảnh bà đã gửi cho người yêu ngày ấy. Bà Kim cười hiền:

- Đó chỉ là dòng chữ “Người con gái rất yêu biển”! Ý tôi muốn nói với anh ấy, tôi rất yêu biển nên rất… yêu người của biển! Việc anh ấy không giải mã được những ký hiệu cũng khiến tôi thấy hay hay, thinh thích…

Tháng 9-1963, Hồ Thị Kim hoàn thành chương trình học tập hai năm. Cô nằm trong số các sinh viên được chọn học tiếp năm thứ ba. Số còn lại thì tốt nghiệp ra trường. Hai người tổ chức đám cưới tại Trường Tuyên huấn Trung ương. Bà Kim vẫn nhớ như in ngày trọng đại của cuộc đời mình:

- Ngày hôm đó, tôi làm xong bài thi cuối cùng môn Tâm lý giáo dục thì buổi tối diễn ra lễ cưới. Thầy giáo coi thi trêu: “Thế này liệu có làm bài thi được không?”. Tôi đáp: “Tình yêu thúc đẩy em làm bài tốt thầy ạ!”.

Mọi người kê một dãy bàn dài bày cỗ cưới. Đôi uyên ương tay trong tay hạnh phúc bên cạnh gia đình, người thân, các thầy cô và bè bạn…

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Mối tình bằng thơ của anh hùng, liệt sĩ, nhà báo Lê Đình Dư (1) | Câu chuyện thời hoa lửa