Mối tình bằng thơ của anh hùng, liệt sĩ, nhà báo Lê Đình Dư
Sau khi Nguyệt san Sự kiện và Nhân chứng số 258 (tháng 6-2015) phát hành, chúng tôi nhận được điện thoại của Đại tá Trần Văn Thà, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 47, Trung đoàn 270, Bộ tư lệnh B5, gọi từ TP Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa: “Tôi đã đọc kỳ 1 bài báo “Mối tình bằng thơ của anh hùng, liệt sĩ, nhà báo Lê Đình Dư”...
Sau khi Nguyệt san Sự kiện và Nhân chứng số 258 (tháng 6-2015) phát hành, chúng tôi nhận được điện thoại của Đại tá Trần Văn Thà, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 47, Trung đoàn 270, Bộ tư lệnh B5, gọi từ TP Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa: “Tôi đã đọc kỳ 1 bài báo “Mối tình bằng thơ của anh hùng, liệt sĩ, nhà báo Lê Đình Dư”. Biết các đồng chí sắp in kỳ tiếp theo, tôi xin lưu ý một chi tiết nhỏ nhưng rất quan trọng, đó là phẩm chất và hành động trên chiến trường của đồng chí Lê Đình Dư là sự hòa quyện giữa chất anh hùng và tính nhân văn, thể hiện rõ giá trị tinh thần to lớn của nhà báo chiến sĩ!".
|
Bà Hồ Thị Kim và con gái Lê Hồ Hương trong ngày đón nhận danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân của liệt sĩ, nhà báo Lê Đình Dư. Ảnh: Xuân Cường. |
Đại tá Trần Văn Thà là người chỉ huy can trường, chiến đấu bên cạnh nhà báo Lê Đình Dư, chứng kiến toàn bộ quá trình tác nghiệp, chiến đấu dũng cảm và thời khắc nhà báo Lê Đình Dư ngã xuống trên chiến hào khói lửa. Ông cũng là người dày công và tâm huyết trong quá trình tham gia cùng Báo Quân đội nhân dân và các cơ quan chức năng lập hồ sơ, đề nghị Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân cho đồng chí Lê Đình Dư. Sự lưu ý đầy trách nhiệm và những ký ức không thể quên của ông với Lê Đình Dư giúp chúng tôi có thêm nguồn tư liệu sinh động, chân thực về cuộc sống, tình yêu và sự nghiệp của người anh hùng LLVT nhân dân đầu tiên trong làng báo nước nhà.
Mùa thu năm 1963, Lê Đình Dư và Hồ Thị Kim làm lễ cưới thì đến tháng 3-1965, họ được hưởng niềm hạnh phúc làm cha, làm mẹ. Lúc bấy giờ, Hồ Thị Kim đã là cô giáo ở Trường cấp 3 Kim Bảng, Hà Nam (từ tháng 4-1965 là tỉnh Nam Hà). Ngày vợ sinh con gái Lê Hồ Hương, Lê Đình Dư đang đi công tác ở đảo Cồn Cỏ. Cô Kim được người thân đưa vào Quân y viện 108 (nay là Bệnh viện Trung ương Quân đội 108) vượt cạn. Từ Cồn Cỏ xa xôi nhận được tin vui, Lê Đình Dư sáng tác ngay một bài thơ tặng vợ và con gái, nhờ đồng đội chuyển về. Bà Kim kể lại kỷ niệm lúc bấy giờ:
- Tôi sinh con được vài ngày thì có 3 anh phóng viên Báo Quân đội nhân dân đến thăm, mang theo một bó hoa kèm theo bài thơ “Cho con gái đầu lòng của tôi” được trình bày rất đẹp. Các anh bảo Lê Đình Dư bận đi công tác nên đã nhờ đồng đội đến chúc mừng, tặng hoa và thơ cho vợ cùng con gái. Mặc dù bệnh viện có quy định không cho người nhà bệnh nhân vào phòng nhưng ba anh bộ đội vào thăm tôi là trường hợp ngoại lệ (có lẽ các anh ấy là nhà báo quân đội nên được các bác sĩ ưu tiên). Bài thơ ấy anh viết như một lời ru con, gửi gắm hạnh phúc được làm cha và tình yêu thương, niềm hy vọng thật nhiều cho con gái. Anh ấy là vậy. Dù bận rộn công việc đến đâu vẫn luôn dành cho gia đình, vợ con một khoảng trời riêng dạt dào tình cảm. Tôi đọc thơ anh cho con gái nghe, dù cháu mới lọt lòng chưa thể cảm nhận được điều gì, nhưng mẹ cháu thì lâng lâng hạnh phúc. Nằm bệnh viện mấy ngày, tôi về ở nhờ nhà người cô của anh Dư, gần bệnh viện. Gần ba tuần sau anh ấy mới về Hà Nội, ở cùng vợ con, gia đình được ít ngày rồi lại tiếp tục đi công tác. Dù chồng phải đi công tác liên miên nhưng tôi luôn cảm thấy vững tin và ấm áp bởi tình cảm gia đình bên chồng. Cô của anh ấy là họa sĩ, ngoài thời gian đi làm việc, sáng tác, cô luôn ân cần giúp đỡ mẹ con tôi. Bố chồng tôi cũng ở gần đó, sáng nào ông cũng tranh thủ đạp xe đến thăm cháu và giúp đỡ tôi nhiều việc. Sau mỗi chuyến đi công tác, anh Dư trở về viết bài. Anh ấy làm việc rất say sưa nhưng không bao giờ quên những cử chỉ ân cần, chăm sóc vợ con chu đáo…
|
Con cười mẹ cũng cười theo...”. Ảnh chụp lại. |
Năm 1966, Hồ Thị Kim về dạy học ở Trường cấp 3 Thuận Thành, Hà Bắc (nay là tỉnh Bắc Ninh). Vợ chồng ở xa nhau, cuộc sống gặp nhiều khó khăn, trở ngại nhưng chính điều đó lại làm cho tình yêu của họ thêm ngọt ngào, lãng mạn. Nửa thế kỷ đi qua nhưng bà Kim vẫn nhớ rõ những kỷ niệm sâu sắc ngày ấy. Có lần sau chuyến đi công tác xa trở về, họ hẹn nhau đoàn tụ ở Hà Nội. “Tôi đạp xe từ Thuận Thành về khu tập thể Báo Quân đội nhân dân, bước vào phòng đã thấy anh để sẵn cặp vé xem phim và bó hoa hồng rực rỡ trên bàn. Bao mệt nhọc tan biến. Đong đầy trong tôi là tình yêu thương và sự san sẻ. Chứng kiến công việc vất vả, bận rộn của anh, tôi thương anh vô cùng…”, bà Kim kể.
Là nhà báo chiến sĩ, Lê Đình Dư luôn có ý thức tự rèn luyện ở mọi lúc mọi nơi. Trước ngày lên đường vào chiến trường Quảng Trị, anh đã tự mình đặt ra kế hoạch huấn luyện thể lực và nghiêm túc thực hiện. Lê Đình Dư bỏ gạch, cát vào ba lô. Buổi chiều hằng ngày, anh hành quân bộ, tải trọng ba lô nâng dần từ thấp lên cao. Quãng đường hành quân cũng được kéo dài thêm mỗi ngày. Nhìn thấy chồng tự “đày đọa” bản thân như vậy, cô Kim thương lắm. Có lần cô lẽo đẽo đạp xe theo anh đến hơn 5 cây số, năn nỉ anh bỏ gạch ra, đèo vợ trở lại phố Lý Nam Đế, nhưng đáp lại, anh luôn nở nụ cười tươi động viên vợ rằng anh phải rèn luyện cho có sức khỏe dẻo dai để vào Trường Sơn chiến đấu, tác nghiệp. Để làm vơi tâm trạng lo lắng của vợ, thỉnh thoảng anh còn pha trò, đọc thơ cho vợ vui, mặc cho bộ quân phục bạc sờn ướt đẫm mồ hôi.
Thế rồi chuyến đi vào chiến trường cũng diễn ra theo đúng ý định. Tháng 1-1968, hai phóng viên Báo Quân đội nhân dân là Lê Đình Dư và Nguyễn Ngọc Nhu nhận nhiệm vụ vào chiến trường B5 ở Quảng Trị. Trong hành trang mang theo của Lê Đình Dư có một kỷ vật quý giá, đến hôm nay bà Kim vẫn còn giữ nguyên vẹn, đó là tấm ảnh chụp vợ và con gái. Vào đến bến phà Long Đại thì Lê Đình Dư gặp phóng viên Nguyễn Đức Toại. Trong lúc chờ qua sông, Lê Đình Dư lấy ảnh của vợ con ra ngắm rồi viết vào mặt sau 4 câu thơ: Con cười mẹ cũng cười theo/ Đời vui lại sáng thêm nhiều niềm vui/ Từ ngoài tiền tuyến xa xôi/ Nghe trong bom đạn tiếng cười của con...
Vào đến chiến trường, Lê Đình Dư viết thư về cho vợ. Và đó cũng là lá thư cuối cùng của anh. Trước Tết Mậu Thân 9 ngày thì cô Kim nhận được thư chồng. Trong thư, Lê Đình Dư hẹn sẽ về nhà đón Tết và dặn vợ nhờ chị cấp dưỡng ở trường gói thật nhiều bánh chưng. Ngày Tết cận kề, cô Kim đặt gói 10 chiếc bánh chưng, lấy dây buộc lại treo trong phòng, thấp thỏm đếm ngược thời gian đợi chồng. Đêm đến, giấc ngủ cô chập chờn mong đợi tiếng bước chân quen thuộc và tiếng gọi khẽ của anh. Chỉ một tiếng động nhỏ trong đêm cũng khiến cô bật dậy châm đèn. Ba mươi Tết vẫn chưa thấy chồng về, ruột gan cô như có lửa đốt. Mồng Một… Mồng Hai… rồi Mồng Ba… những chiếc bánh chưng nguội ngắt đã cứng lại vì giá lạnh, nhưng căn phòng chật hẹp vẫn trống trải đến mênh mông... Mỗi lần ra đường, thấy dáng ai đó cao gầy mặc quân phục từ xa, cô lại đưa tay lên úp mặt, cầu trời đó chính là chồng cô. Đến khi mở hai bàn tay, biết mình nhầm, cô lại tự dặn lòng rằng, chồng cô về muộn vì nhiệm vụ chiến trường. Mồng Bốn… rồi Mồng Năm… những chiếc bánh chưng không còn sử dụng được nữa. Người mẹ trẻ ngẩn ngơ nhìn những cặp bánh, trong lòng dậy lên những mối lo âu… Tết đã đi qua, nhưng nỗi mong nhớ chồng thì ngày càng đầy thêm trong lòng người vợ…
Cho đến sau này, khi nhận được giấy báo tử của chồng, Hồ Thị Kim bàng hoàng đau đớn nhận ra, thời điểm cô nhận được lá thư cuối cùng của chồng cũng chính là ngày Lê Đình Dư ngã xuống ở chiến trường-ngày 21 tháng Chạp, năm Mậu Thân 1968.
Bà Kim không thể chứng kiến những ngày tháng cuối đời của chồng ở chiến trường khốc liệt, nơi mà phẩm chất, bản lĩnh, hành động anh hùng của Lê Đình Dư hội tụ và tỏa sáng nhất, nhưng đồng đội của liệt sĩ thì không thể nào quên. Gần nửa thế kỷ trôi qua nhưng hình ảnh, tư thế hy sinh cùng câu nói đã trở thành biểu tượng của các thế hệ nhà báo chiến sĩ: “Người chiến sĩ có thể đứng bắn, quỳ bắn, nằm bắn; còn phóng viên chúng tôi chỉ có quyền đứng thẳng trên chiến hào dùng vũ khí là máy ảnh, bút máy để ghi lại chiến công của đồng đội và tội ác của quân thù” của Lê Đình Dư vẫn vẹn nguyên trong ký ức của Đại tá Trần Văn Thà. Trên cương vị tiểu đoàn trưởng chỉ huy đơn vị chiến đấu, dù thời gian gắn bó, gần gũi với Lê Đình Dư chưa lâu nhưng khí phách, bản lĩnh, lòng nhiệt huyết, hành động dũng cảm của nhà báo chiến sĩ đã để lại trong ông và cán bộ, chiến sĩ đơn vị những dấu ấn sâu sắc. Trong ký ức Đại tá Trần Văn Thà, nhà báo Lê Đình Dư là “ngọn lửa”, là biểu tượng của ý chí chiến đấu và chiến thắng. Ông nói: “Đồng chí Lê Đình Dư nói với tôi, sự có mặt của đồng chí trong đội hình đơn vị không phải là "khách” mà hãy để cho đồng chí được chiến đấu như một sĩ quan, một chiến sĩ thực thụ. Tay máy, tay súng, đồng chí vừa chiến đấu vừa tác nghiệp. Trước mỗi hành động, diễn biến mới trên chiến trường, Lê Đình Dư đều cố gắng chụp ảnh, ghi chép cụ thể. Đồng chí vui mừng trước chiến thắng và quan tâm, tiếp sức, san sẻ với đồng chí, đồng đội những lúc gian khổ, hy sinh. Đó là tính nhân văn cao cả trong con người anh hùng. Chúng tôi mãi tự hào trong đội hình chiến đấu của đơn vị có đồng chí Lê Đình Dư”.
Vào dịp kỷ niệm 90 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam, bà Hồ Thị Kim đã trở lại Gio Linh (Quảng Trị) viếng mộ chồng. Đem theo cặp bánh chưng, bó hoa huệ trắng, bên làn khói nhang linh thiêng, bà thủ thỉ với chồng như thể ngày xưa bà từng đợi ông trở về cùng tin chiến thắng…





