Mối tình bên dòng Vu Gia
Ông là Lê Văn Bông, sinh năm 1953, vẻ thon chắc, tinh nhanh. Bà là Lê Thị Xuân Hòa, kém chồng 1 tuổi, dáng yểu điệu thục nữ...
Ông là Lê Văn Bông, sinh năm 1953, vẻ thon chắc, tinh nhanh. Bà là Lê Thị Xuân Hòa, kém chồng 1 tuổi, dáng yểu điệu thục nữ. Hồi kháng chiến chống Mỹ, ông là tổ trưởng Biệt động B1/quận Nhì thành phố Đà Nẵng với miên man trận mạc, bà là “nàng Kiều đi đánh giặc”, làm quản lý hậu cần Đại đội 1 thuộc Huyện đội Đại Lộc bên dòng sông Vu Gia thuộc tỉnh Quảng Đà.
|
Ông Bông, bà Hòa (tháng 8-2014). |
Tình yêu của cặp trai tài, gái sắc nổi tiếng đất Quảng ấy càng trong khó khăn thì càng son sắt. Đúng như câu mở đầu cuốn “Nhật ký đời lính” của ông: “Đất mẹ yêu ơi, con sẽ về/ Một lòng trọn vẹn với tình quê”. Giữa gian khổ ác liệt, ông vẫn tức cảnh sinh tình: “Hành quân về lại sông Hàn/ Dừng chân sông Bắc, nhớ nàng sông Thu/ Đêm nay tiêu diệt quân thù/ Chiến công xin tặng sông Vu đợi chờ”. Ấy là mùa khô năm 1973, ông cùng đơn vị hành quân từ Ba Khe (Đại Lộc) đi sông Hàn chuẩn bị đánh cứ điểm Phước Lý nhằm tiêu diệt lực lượng pháo hỗn hợp chuyên bảo vệ dàn tên lửa Tô-ma-hốc Phước Tường của địch. Trên đường đi, các ông dừng chân ở sông Bắc (nay thuộc xã Hòa Bắc, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng) chảy xuống cầu Thủy Tú-nơi ghi chiến tích oai hùng của Tiểu đoàn đặc công nước 471/Mặt trận Quảng Đà. "Nhớ nàng sông Thu” là ý nói tới kỷ niệm những lần đơn vị hành quân qua sông Thu Bồn, ông được biết sự tích người con gái phường chèo mang tên Thu Bồn, do bà con ở đấy kể. Đời lính, cái sự “Tối đâu là nhà, ngã đâu là giường” có gì đáng bàn! Nhưng, mục tiêu cuối cùng của trận đánh nào thì cũng phải là toàn thắng. Chiến công trong trận này, chàng lính đặc công Lê Xuân Bông dành tặng “sông Vu đợi chờ”. Đó là "nàng Kiều đi đánh giặc” bên dòng sông Vu Gia-Lê Thị Xuân Hòa nổi tiếng xinh đẹp và anh dũng.
Sáu tháng sau trận đánh Phước Lý, một thử thách nghiệt ngã đến với tình yêu của họ. 21 giờ ngày 29-6-1974, Lê Thị Xuân Hòa trong đoàn gồm 7 người thuộc 7 đơn vị khác nhau đi mua hàng cho các đơn vị chuẩn bị đánh cứ điểm Thượng Đức. Lúc qua đường cái Hương Phú thuộc địa phận thôn Đông Lâm, xã Đại Quang thì gặp địch phục kích. Sau một va chạm nhỏ, pháo sáng địch quét trắng mặt đất. Một quả đạn M79 rơi trúng đội hình quân ta đang ẩn náu làm chị Lan-du kích dẫn đường hy sinh tại chỗ. Khi pháo sáng tắt, mọi người tìm lối thoát ra. Một viên AR-15 từ hướng đối diện xuyên qua bên phải đùi của Hòa. Hòa cắn răng chịu đựng, nằm im quan sát. Nhận ra ngôi nhà có người chồng là lính ngụy ở gần nhất. Không còn cơ hội nào khác để tránh bọn địch lùng sục và có thể chết do mất máu, gần nửa đêm, Hòa dùng hết sức lết vào đó… rồi gắng sức nói vừa đủ cho bà chủ nghe: “Cách mạng. Bị thương. Quân Giải phóng đã làm chủ nơi này rồi. Chị yên tâm để em nằm đây!”. Bà chủ âm thầm đưa cho Hòa một cái áo cũ để Hòa tự băng bó vết thương. Ngoài đường lính ngụy rầm rập… Khoảng một giờ sáng, yên tĩnh trở lại. Hòa đưa cục tiền cho bà chủ, khẩn khoản: “Bây giờ em nói thật. Quân ngụy của chồng chị vẫn đang chiếm giữ vùng này. Số tiền đây, chị tiêu đi, còn hơn để ngụy lấy mất, uổng lắm! Chị đưa em ra khỏi nhà chị ngay kẻo liên lụy. Em "đã ăn hết cơm cách mạng”, không bao giờ em khai với quân ngụy là chị đã giúp đỡ em…”. Bà chủ lặng người, cất túi tiền rồi ngay lập tức, kéo lê Hòa ra giấu cạnh bụi mía, cách cửa nhà vài chục mét. Hòa mệt lả, dần thiếp đi. Trong đầu văng vẳng lời Đại đội trưởng Thái Nam và đồng chí Được-Bí thư chi bộ nói hôm qua: “Quyết định kết nạp Đảng cho Hòa đã về đến chi bộ. Vì nhiệm vụ gấp, Hòa đi công tác về sẽ tuyên thệ dưới cờ Đảng”…
Tang tảng sáng, bọn lính ngụy từ đồn Gò Chùa kéo xuống qua chỗ Hòa nằm… Một tên xả loạt đạn AR-15 đe dọa. Chúng tranh nhau cái túi Hòa dùng đựng tiền đã trống rỗng. Một tên giật đứt dây chuyền và vòng lắc tay của Hòa… Tên trung sĩ Hạnh (Hòa nghe bọn chúng kháo tên của thằng này) đạp giày đinh vào lưng Hòa. Một người lính nói: “Trung sĩ! Họ bị thương rồi, đừng đánh nữa!”. Trời sáng rõ. Bọn địch kéo Hòa ra mặt đường cái, hỏi cung giữa những người dân vây xem. Hòa cố hết sức để khẳng khái trả lời từng câu hỏi, từng ngón đặt bẫy của địch; nhất quán nói chệch sự thật để đánh lừa chúng: “Tôi từ Đại Hồng (xã ở phía đối diện với xã Đại Quang) ra”, "Tôi đi học y tá”, "Tôi mới nhập lớp, nay đi mua gạo ăn chứ chưa học”, "Chưa học nên tôi mới chỉ biết một số thuốc viên, không biết những thuốc này” (thuốc do thằng lính ngụy chìa ra hỏi), “Lớp học có 24 người”, "Anh Tập (tên một đồng đội cấp trên của Hòa) là bác sĩ” (cũng như sau đó, Hòa lấy những cái tên cố định để khỏi bị nhầm lẫn qua các lần trả lời địch), “Mới gặp nhau nên tôi chỉ nhớ các bạn Mao, Mau, Mỳ, Chiến, Công, Dân, Lợi, Chức, Xí (tên 9 người con trong một gia đình quen biết ở huyện Điện Bàn)”. Tới đấy, chúng dừng hỏi và mang chị về căn cứ để chữa thương và suốt 5 ngày liền, bất thình lình chúng lại tra hỏi. Chị lại trả lời, “tiền hậu thống nhất”. Bọn chúng lắc đầu, bỏ cuộc, đưa chị đi giam xiềng chân tại khu biệt lập ở Hội An. Tin dữ từ đấy lan truyền. Nửa tháng sau, bố mẹ chị mang tiền lo lót, đưa chị thoát khỏi nhà lao, về bệnh viện Đà Nẵng chạy chữa. Chị nhờ người tin tưởng chuyển thư báo cáo sự việc với đơn vị. Chị nhận được sự động viên kịp thời của chỉ huy Đại đội 1 và Ban lãnh đạo Huyện đội Đại Lộc. Trong khi đó Lê Xuân Bông vẫn “tít mít” với những trận đánh điểm huyệt quân địch và cũng không ít lần suýt chết…
Đà Nẵng giải phóng. Người con gái “sông Vu đợi chờ” của Đội trưởng biệt động Lê Xuân Bông trở về đơn vị ở thị trấn Ái Nghĩa và được đưa đến Bệnh viện C17, thuộc Quân khu 5 điều dưỡng tiếp. Tháng 7-1975, chị ra viện, được chuyển công tác sang ngành thương nghiệp của tỉnh. Chị vẫn phải khám và chữa trị định kỳ những căn bệnh phát sinh từ hậu quả của cái đêm khủng khiếp 29-6-1974 ấy. Một ngày đẹp trời năm 1978, tại Bộ CHQS tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng, hơn 1000 người đã tới dự lễ thành hôn của anh Bông (lúc ấy đã về công tác tại Ban Cán bộ/ Bộ CHQS tỉnh) với người con gái “sông Vu đợi chờ” năm xưa đang công tác tại Cửa hàng bách hóa Vườn Hoa thành phố bên sông Hàn.
Giờ đây, đôi vợ chồng hưu trí đều bị nhiễm chất độc da cam/đi-ô-xin ấy ở nhà số 141 trên đường Nguyễn Chí Thanh, TP Đà Nẵng. Bà, thương binh hạng 3/4, càng yếu do qua 7 lần mổ điều dưỡng thoái hóa khớp, vai, lưng và trị bệnh tiểu đường… Còn ông, vừa là thương binh, vừa là bệnh binh, đã qua mổ tim, chỉ còn dưới 30% sức khỏe. Khi gặp bạn chiến đấu năm xưa thì ông cởi trần cho đỡ nóng trong người. Còn lúc tiếp khách, ông phải quần chùng áo dài, không thể “đông che, hè mở” được. Bởi vì từ chân đến cổ ông không ít những vết sẹo… chứng tích của hàng chục trận đánh tiêu diệt địch trên đất Quảng Đà xưa… Khách gõ cửa, nếu phải đợi dăm bảy phút thì tức là đúng vào lúc ông đang giúp bà “di chuyển” vị trí nằm hoặc từ tầng trệt lên lầu. Ba người con đều đã phương trưởng, vẫn tranh nhau việc chăm sóc bố mẹ. Nhưng ông bà bảo chúng: “Các con cứ yên tâm công tác, học tập. Bố mẹ thuộc tính nết của nhau, lại cùng phải mang những vết thương chiến tranh nên dễ đồng cảm và hiểu sự đau đớn của nhau hơn!”.




