Khác

Mối tình từ những tứ thơ

Xuân 2016 này, ông Vũ Văn Xiển-bà Nguyễn Thị Mai (ở nhà 63, phố Tống Duy Tân, TP Hải Dương) tròn 40 năm kết tóc xe tơ. Bà Mai thổ lộ với bạn bè: Bốn mươi năm ấy biết bao nhiêu tình. Nhưng ấn tượng sâu sắc nhất, là vợ chồng mình đã từng “vịn thơ mà bước đi”...

Phú Thọ14/04/2026Đoàn xã Tân Pheo (Đoàn xã Tân Pheo)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Xuân 2016 này, ông Vũ Văn Xiển-bà Nguyễn Thị Mai (ở nhà 63, phố Tống Duy Tân, TP Hải Dương) tròn 40 năm kết tóc xe tơ. Bà Mai thổ lộ với bạn bè: Bốn mươi năm ấy biết bao nhiêu tình. Nhưng ấn tượng sâu sắc nhất, là vợ chồng mình đã từng “vịn thơ mà bước đi”...

Người lính trẻ yêu thơ

Mùa thu năm 1966, giữa lúc đế quốc Mỹ leo thang chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc nước ta, bà Nguyễn Thị Mai vào tuổi 13, học lớp 6, cùng gia đình từ thị xã Hải Dương sơ tán về thôn Nghĩa Dũng, xã Đại Đồng, huyện Tứ Kỳ, ở nhờ gia đình cụ Vũ Súy-bác ruột của ông Xiển. Ông Xiển mồ côi cha mẹ, ở với cụ Súy.

Đầu năm Đinh Mùi 1967, nghe Bác Hồ chúc Tết: “Xuân về xin có một bài ca/ Gửi chúc đồng bào cả nước ta:/ Chống Mỹ hai miền đều đánh giỏi/ Tin mừng thắng trận nở như hoa”, ông Xiển vừa qua tuổi 17 thấy lòng rộn rực, tựa hồ như được nghe hồn thiêng sông núi vọng về. Ăn Tết xong, ông lên xã đội xung phong tòng quân đánh Mỹ, trở thành chiến sĩ Trung đoàn 8 bộ đội Hải Dương, huấn luyện ở vùng núi Chí Linh, Yên Tử chuẩn bị vào chiến trường.

Thực tiễn cuộc sống người trai đi cứu nước quyện với tâm hồn thơ đã nâng bước ông vững vàng vào cuộc trường chinh đầy gian nan thử thách. Qua đèo Tạc, ba lô, súng đạn trĩu vai, sấm chớp soi đường... Ông viết: “Đèo Tạc, ai tìm mới gớm sao?/ Đường lên vừa dốc lại vừa cao/ Lối đi vừa đủ bàn chân đạp/ Chỉ chút sơ tâm ắt té nhào/ Nhưng quân không nản, lòng gang thép/ Đèo Tạc cao, còn kém chí cao!”. Các chiến sĩ nghe sướng quá, hoan hô “Chí Cao” vang cả đường đèo.

Ngày 8-1-1968 xuất phát đi B, ông kê sổ tay lên ba lô, xúc cảm lãng mạn lạc quan tuôn ra đầu ngọn bút: “Đất nước lâm nguy, ta lên đường/ Lòng sôi bao nỗi nhớ niềm thương/ Chí dũng trai hùng nơi chiến trận/ Diệt quân thù, bảo vệ quê hương/ Khải hoàn mai ngày khúc vang ca/ Thống nhất non sông hợp một nhà/ Cờ đỏ sao vàng bay rực đất/ Đại thắng quân thù, có phần ta”. Năm tháng sau, vào tới miền Đông Nam Bộ, ông được biên chế vào Trung đội Chỉ huy thuộc Tiểu đoàn pháo binh 22 của Sư đoàn 9, bắt đầu “pháo lăn dài chiến dịch” khắp vùng đất “gian lao mà anh dũng”, qua các chiến dịch: Chen La 1 (tháng 4-1970), Chen La 2 (tháng 1-1971), Nguyễn Huệ (tháng 2-1972)… cho tới ngày ta toàn thắng.

Ông Xiển và bà Mai (Xuân Bính Thân 2016).

Trong khốc liệt chiến tranh, ông hóa giải sự cảm nhận gian khổ, hy sinh và cả ý chí quật cường của chiến sĩ ta bằng thơ. Trong đó có những bài đến nay ông vẫn nhớ như in. Chẳng hạn, bài “Gửi quê hương”, ông viết năm 1970 tại Bình Long, nhân có một thương binh là người cùng làng được ra Bắc an dưỡng: “Gặp anh người bạn cùng quê/ Gửi anh một bức ảnh về quê hương/ Nói rằng, con ở chiến trường/ Vẫn đang khỏe mạnh phi thường như xưa” (năm đó, tôi đang học lớp 9. Hôm thư ấy về làng, cả thôn tôi xôn xao vì chắc chắn có hai người con của quê hương đi B vẫn còn sống. Nghe câu thơ “Vẫn đang khỏe mạnh phi thường như xưa”, tôi cảm tưởng như cả làng tôi cùng khỏe như ông, cùng ông vào cuộc chiến đấu diệt thù).

Bài “Dũng ơi”, ông viết trong trận Tiểu đoàn 22 tham gia Chiến dịch Chen La 1, tấn công thị xã Công-pông Thom, Cam-pu-chia. Lúc đó vào khoảng 7 giờ sáng. Giữa phút im ắng hiếm hoi, một quả đạn cối của địch rơi trúng ông Dũng-chiến sĩ thông tin, quê Hải Phòng. Suốt ngày đêm xót thương bạn, gần sáng ông khóc: “Hôm qua, nếu Xiển cùng ngồi/ Thì chung số phận Dũng, Dũng ơi!/ Hai năm chung sống cùng lý tưởng/ Trước lúc ra đi không một lời/ Tình bạn từ nay biệt ly/ Thế gian - Xiển ở, Dũng đi/ Nơi ấy-nghìn thu chín suối/ Khổ đau. Xiển biết nói gì!”. Rồi ông cuộn chặt bàn tay như nén căm thù, chờ địch…

Bài “Thiệu muốn gì?”: Khi Mỹ đã cút nhưng ngụy chưa chịu nhào, vẫn hung hăng. Ông viết bài cảnh cáo Tổng thống Việt Nam cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu: “Mạnh như “Mẽo quốc” (đế quốc Mỹ) còn chịu thua/ Sức yếu như ông-quả đấm thừa/ Diễu vuốt, giương vây làm chi nữa/ Hãy học quan thầy “Mẽo quốc” đi/ Giải phóng quân-triều dâng, thác đổ/ Không sợ họ ư? Ông muốn gì?”. Báo Quân Giải phóng đã đăng ngay bài thơ này của ông.

Sau khi Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết ngày 27-1-1973, tại Bến Cát (Bình Dương), ông gửi về gia đình bài thơ “Đông tàn, Xuân mới” mừng Xuân Quý Sửu: “Kể từ ngày ấy con đi/ Lúa đồng nay đã mấy kỳ trổ bông/ Mấy Xuân mận trắng, đào hồng/ Mỗi Xuân là mấy nỗi lòng bác ơi!/ Đông tàn. Xuân lại về rồi/ Mừng Xuân con viết mấy lời hỏi thăm”… vừa đằm thắm tình quê, vừa tràn trề hy vọng.

Mối tình từ những tứ thơ

Giữa những ngày ông Xiển cùng đồng đội diệt thù ở tiền tuyến, mùa thu 1971, nơi hậu phương, bà Mai vào học trường sư phạm-đào tạo giáo viên môn văn, tại tỉnh Hưng Yên. Tốt nghiệp, bà về dạy cấp 2 (trung học cơ sở bây giờ) tại xã Ái Quốc, huyện Nam Sách (tỉnh Hải Dương). Suốt thời gian đó ông bà không hề liên lạc với nhau. Cuối 1975, cụ Vũ Súy mang lá thư của ông Xiển gửi ra từ miền Nam lên thị xã Hải Dương để gia đình bà Mai cùng xem. Trong thư, ông Xiển hỏi thăm mọi người...

Gia đình bà Mai giục bà viết thư phúc đáp. Thế là, những chi tiết văn học khắc họa hình tượng người chiến sĩ Giải phóng quân mà bà Mai đã được học ở nhà trường, giờ đây, liên hệ với anh bộ đội Vũ Văn Xiển bằng xương bằng thịt, đã làm cho trái tim mẫn cảm của “cô giáo Văn đương độ xuân xanh” xao xuyến kỳ lạ. Rõ ràng là cô đang hình dung ra một điển hình văn học ở ngoài đời, như sờ sờ trước mắt. “Đúng là ông Tố Hữu đã viết về những người như anh Xiển-Những “Thạch Sanh của thế kỷ 20”, “Bước dài như gió lay thành, chuyển non” làm “rung chuyển cả Lầu Năm Góc”… Những vần thơ cứ theo mạch suy tư ấy ùa về trong cô: “Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều/ Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo/ Núi không đè nổi vai vươn tới/ Lá ngụy trang reo với gió đèo”. Đang ngẫm nghĩ hình tượng “Giọt giọt mồ hôi rơi/ Trên má anh vàng nghệ/ Anh Vệ quốc quân ơi/ Sao mà yêu anh thế!”, cô đã buột miệng thốt lên: “Anh Giải phóng quân ơi!/ Sao mà yêu anh thế!”. Những vần thơ ấy đã được cô dẫn cả vào thư.

Hai lần những cánh thư như thế bay về phương Nam. Lời lẽ trong thư và bức ảnh cụ Nguyễn Thị Tình (mẹ bà Mai) bên con gái làm cho ông Xiển thực sự xúc động. Ông chia sẻ với đồng đội. Họ cùng đọc thư và thích thú vô cùng!

Đầu năm 1976, ông Xiển ra Bắc, lên phố Minh Khai (Hải Dương) thăm gia đình bà Mai. Hai người gặp lại nhau với những cảm xúc đặc biệt… Những cảm xúc ấy được nhân lên khi bà Mai đọc những bài thơ do ông Xiển viết trong một cuốn sổ nhỏ còn vương màu chiến trận. Những vần thơ được bà Mai dùng làm dẫn chứng sống động khi giảng về chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến đấu cho học sinh. Và, duyên thơ của người chiến sĩ Giải phóng quân với cô giáo trẻ dạy Văn đã trở thành sứ giả của tình yêu… Cuối năm ấy, ông bà đến trụ sở chính quyền địa phương đăng ký kết hôn. Ông chuyển ngành về Nhà máy Đá mài Hải Dương, hăng say công tác để cho bà “yêu người bao nhiêu thì càng yêu nghề bấy nhiêu”. Năm 1977, trong một tờ Báo Phụ nữ Việt Nam có bức ảnh bà Mai bế một cháu trai kháu khỉnh, giống ông Xiển như đúc. Đó là Vũ Việt Hoàng, nay đang làm nghề vận tải ô tô xuyên Việt. Em gái của Hoàng thì đang nối nghiệp mẹ, ngày ngày say sưa với công việc trồng người… Ông bà đã có 4 cháu nội ngoại.

Xuân này, tròn 40 năm “kết tóc xe tơ”. Chặng đường đã qua với bao nhiêu kỷ niệm buồn vui… Song cái buổi ban đầu “duyên thơ” ấy của ông Xiển, bà Mai - một cựu chiến binh Quân Giải phóng và một cựu giáo chức yêu nghề, thật đáng trân trọng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn