MỘT BÀ MẸ HAI QUÊ - Mẹ VNAH Nguyễn Thị Báo
Cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, chống đế quốc xâm lược, có biết bao anh hùng đã anh dũng hy sinh để giành lấy độc lập, tự do cho dân tộc. Sự hy sinh cao cả đó đã được nhà thơ Tố Hữu đã phác họa thành hình tượng rất chân thực và vô cùng mãnh liệt, đã ghi vào lòng của mọi người về chân lý của sự hy sinh: “Có những phút làm nên lịch sử/ Có cái chết hóa thành bất tử”. Mẹ Nguyễn Thị Báo ở xã Hòa Nghĩa cũng đã hiến dâng hai liệt sĩ cho đất nước.
Mẹ Nguyễn Thị Báo sinh năm 1921. “Nơi chôn nhao cắt rốn” của Mẹ ở xã Nhơn Phú, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Đến tuổi trưởng thành, Mẹ lập gia đình với ông Nguyễn Văn Hương – người chồng hơn Mẹ 14 tuổi. Tình duyên của ông bà có lẽ do trời định. Bởi vì lúc ấy, đất nước ta trong chế độ thực dân nửa phong kiến, cuộc sống đã khó khăn còn phải đối phó với nạn trộm cướp rình rập, đe dọa hàng ngày. Vì gia đình Mẹ không có con trai mà ông Hương là người làm công nhưng cường tráng và rất giỏi võ nghệ. Vì gia cảnh cô thế, nên “ngọn Cát Đằng nương tựa bóng tùng quân”. Chính từ đó, gia đình tác hợp cho ông và bà kết thành nghĩa phu thê.
Hai ông bà sống với nhau sinh được 10 người con: 6 trai và 4 gái. Trong thời gian sống tại Nhơn Phú, sinh được 4 người con. Năm 1946, trong một lần ông Hương tham gia thi đấu võ đài đã đánh chết tên “lính Thổ” (da đen). Vì sợ bọn chúng trả thù nên gia đình phải tìm nơi khác lánh nạn. Cuối cùng, Mẹ chọn ấp Bình An, xã Hòa Nghĩa là quê hương thứ hai để tiếp tục mưu sinh.
Về đây, năm 1947, ông bà sinh người con trai thứ sáu là Nguyễn Văn Ngoạt. Tháng 01/1968, ở vào tuổi hai mươi mốt, Chú tham gia bộ đội thuộc đơn vị Tiểu đoàn 516 của tỉnh Bến Tre. Khoảng 6 tháng sau khi nhập ngũ với cấp bậc Binh nhất. Ngày 07 tháng 5 năm 1968, chú tham gia trong một trận đánh tại Đồn cây Dúi trên địa bàn xã Hưng Khánh Trung B, huyện Chợ Lách. Chú bị trúng đạn và hy sinh trong tuổi đời và tuổi quân còn rất non trẻ.
Nhận được hung tin, một trong hai đứa con đi bộ đội đã không thể trở về, lòng Mẹ vô cùng đau xót. Nhưng Mẹ vẫn tin sẽ có một ngày quê hương sạch bóng quân thù. Hàng ngày, Mẹ vẫn nén nỗi đau để lo cho chồng, cho con; vừa là nội trợ gia đình, cũng vừa là chị, là mẹ nuôi của lực lượng cách mạng khi đóng quân trong ấp. Còn chồng Mẹ, ông Hương vẫn là công nhân rào đường, cứ mỗi lần bộ đội về là ông tham gia rào chắn đường để ngăn cản sự tấn công của bọn lính, bảo vệ an toàn cho lực lượng cách mạng.
Chú Nguyễn Văn Mao, sinh năm 1949 là người con thứ bảy của Mẹ. Tháng 01 năm 1968, Chú cùng anh trai mình là Nguyễn Văn Ngoạt tham gia vào bộ đội với bí danh là Lê Thanh. Đơn vị công tác là Bộ đội địa phương huyện Chợ Lách. Sau thời gian công tác, chú được phong cấp bậc Thượng sỹ. Năm 1973, Chú tham gia đánh trận ở khu vực Miếu Sĩ Tướng thuộc ấp 6, xã Thạnh An, huyện Mỏ Cày Bắc. Trong trận chiến này, chú bị trọng thương nhiều vết trên thân thể. Sau đó chú chuyển về an dưỡng, điều trị ở gia đình bà mẹ nuôi là Bùi Thị Tràng tại ấp Phước Tân, xã Bình Khánh (nay là Bình Khánh Đông), huyện Mỏ Cày Nam (Bà cũng vừa được tặng danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam anh hùng đầu năm 2015). Ngày 10 tháng 9 năm 1974, trong một đợt ruồng bố của địch trên địa bàn, do bị thương nặng nên Chú cùng đồng chí Năm Nạm – Bí thư chi bộ ấp ẩn nấp trong bụi tre. Trong lúc bọn lính hăng máu truy lùng, vô nhà dân cứ vơ vét đồ ăn thức uống, chúng rượt đuổi bắt gà... nhưng không may, một con gà chạy trốn vô bụi tre, bọn chúng xả súng vào làm đồng chí Năm Nạm trúng đạn hy sinh; còn chú Mao bị gãy chân và rơi vào tay giặc. Bọn chúng đánh đập tra khảo nhưng Chú vẫn cương quyết không khai, còn tự xưng: “Tao tên Lê Thanh là bộ đội Tiểu đoàn 7”. Biết tra tấn nhưng không khai thác được gì nên chúng bắn chú hy sinh.
Nỗi đau chưa vơi thì Mẹ tiếp tục nhận được nỗi đau thứ hai, thế là hai người con trai của Mẹ đã hy sinh. Hai anh em cùng lên đường tham gia bộ đội thì hai lần nhận được tin báo tử. Tâm trí của Mẹ dường như bấn loạn, nhưng Mẹ cố gạt nỗi đau thương để tiếp tục lo cho gia đình, mong một ngày đất nước được độc lập.
Sự trông chờ của Mẹ và hàng triệu người dân Việt Nam cũng được toại nguyện. Mẹ được chứng kiến cảnh đất nước được thanh bình và quê hương được đổi mới. Mẹ được sống bên các con, các cháu trong cuộc sống ấm êm, nhưng lòng Mẹ cũng quặn đau khi nhớ đến hai người con đã hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc.
Năm 1985, Mẹ bị bệnh và qua đời, hưởng thọ 64 tuổi. Trong mùa xuân này, niềm vui cũng đến gia đình Mẹ vì đã được Chủ tịch nước tặng danh hiệu “Bà Mẹ Việt Nam anh hùng”. Đây là phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước ghi nhận những cống hiến to lớn của Mẹ đã sinh ra những người con làm rạng rỡ thêm trang sử vàng của dân tộc.



