Khác

MỘT CHUYẾN VÀO NAM (NGUYỄN VĂN KHẢ)

Tháng 3/1964 tôi và anh Nguyễn Văn Tôn cán bộ công tác tại Cục bảo vệ được lệnh vào chiến đấu ở chiến trường Nam Bộ (B2).

Lai Châu27/02/2026Sưu tầm (Đoàn xã Tà Tổng)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tháng 3/1964 tôi và anh Nguyễn Văn Tôn cán bộ công tác tại Cục bảo vệ được lệnh vào chiến đấu ở chiến trường Nam Bộ (B2).

Thủ trưởng Cục bảo vệ lúc đó là đồng chí Phạm Kiệt nói với hai chúng tôi là do yêu cầu gấp của chiến trường, các đồng chí thu xếp bàn giao công việc và làm công tác tư tưởng với gia đình trong phạm vi 15 ngày để ra đi vào Nam. Các đồng chí không phải tập đeo gạch, leo núi, mà đi bằng môt con đường khác; khi đi các đồng chí sẽ biết. Là cán bộ bảo vệ, Cục không phải dặn gì thêm. Cố gắng giữ gìn sức khoẻ và làm công tác ổn định tư tưởng cho gia đình để ra đi được thanh thản.

Cả hai chúng tôi nhận nhiệm vụ một cách nhẹ nhàng và bàn giao công việc với đơn vị rất nhanh. Về gia đình, với vợ con thì không khó khăn lắm; tôi đã nói rõ với vợ về việc đi vào Nam chiến đấu. Nhưng với mẹ tôi, tuổi đã gần 70, tai điếc khá nặng. Bố tôi mất từ lúc tôi mới 5 tuổi, mẹ tôi ở lại nuôi tôi và chỉ có một mình tôi. Rất thương mẹ và đắn đo suy nghĩ mãi không biết nên nói với mẹ như thế nào để cho mẹ đỡ nghĩ ngợi nhiều. Tôi nói rằng: "Con được cấp trên cử đi sang nước bạn học mấy năm nữa nên lại phải xa mẹ, xa vợ con". Nói như vậy vì tôi đã học ở Liên Xô mấy năm, về nước cuối năm 1962.

Tôi thật không ngờ về mẹ của mình. Bà nói rằng: Con nói không đúng rồi! Con vừa đi học ở nước bạn về, Nhà nước đang cần đánh giặc để giải phóng Miền Nam, con đi mà đánh giặc. Trước đây thời kỳ đánh Tây, con đi tám, chín năm trời, mẹ ở nhà có một mình vẫn được. Nay con có đi xa, nhưng có vợ, có con con ở với mẹ với bà là tốt quá rồi. Con cứ đi, đi cho "chân cứng đá mềm", đánh hết giặc rồi trở về, chắc rằng lúc đó mẹ chưa chết đâu!"

Tôi lặng người không biết nói gì nữa. Tôi ôm lấy mẹ mà nước mắt của tôi cứ chảy ra, tôi càng thương mẹ tôi. Cảm ơn mẹ, một người mẹ tuyệt vời!

Vào một buổi tối của tháng 4/1964, chúng tôi được báo ngày xuống tàu đi vào Nam. Đồng chí thuyền trưởng hướng dẫn và dặn dò chúng tôi những điều cần thiết cho người đi tàu biển. Đúng 12 giờ trưa ngày hôm sau chúng tôi bước xuống tàu, tạm xa Miền Bắc thân yêu đi vào chiến trường mà ở trong đó nhân dân và biết bao chiến sĩ cán bộ chúng ta chịu đựng gian khổ gặp rất nhiều khó khăn nguy hiểm và biết bao nhiêu đồng bào đồng chí đã hy sinh trong đấu tranh cách mạng.

Ngồi trên tàu, một thuỷ thủ đã nói với tôi rằng: với chiếc tàu này, nếu người ngoài nhìn vào bảo là tàu đánh cá cũng được, tàu buôn cũng được và nếu phán đoán là tàu chiến thì cũng không sai.

Nhìn biển rộng mênh mông, càng xa bờ càng thấy mình quá bé nhỏ trước biển khơi. Chỉ còn thấy mặt nước, chân mây, biển trải rộng với nhiều màu sắc khác nhau theo thời gian trong ngày. Và chiều tối là một khoảng không gian rộng vô cùng với một màu tím đen thẫm đẹp tuyệt vời!

Khi ở vị trí tập kết, qua tìm hiểu chúng tôi được biết từ năm 1962 đến năm 1964 chúng ta đã có mấy chục chuyến tàu chở vũ khí vào chiến trường, Từ tàu gỗ nhỏ, tàu gỗ lớn hơn đến tàu sắt nhỏ và giờ đây là tàu khoảng 100 tấn. Việc đưa vũ khí vào Nam bằng tàu biển là rất khó khăn nguy hiểm, nhưng nếu vào được 50% là một thắng lợi lớn. Mỗi chuyến đi có kèm theo đưa hai, ba cán bộ vào chiến trường và thường là những đồng chí có yêu cầu đi gấp. Bằng mọi cách cố gắng cao nhất, dù tình huống nào cũng không để lộ đường vận chuyển, không lộ phương tiện vận chuyển, không lộ bến tiếp nhận.

Phương tiện bảo đảm cho một chuyến đi của chúng tôi còn rất nghèo nàn, chỉ có một cái la bàn, một hải đồ 1/1.000.000 và một cái thước đo góc. Bao nhiêu thứ cần thiết nữa thì chúng ta không có.

Qua 2 giờ trên biển tôi thấy người bắt đầu nôn nao say sóng. Đến giờ thứ 4, thứ 5 thì say sóng thật sự, người choáng váng, nhức đầu, nôn mửa. Mệt quá, vẫn nôn, nôn hết, nôn ra mật xanh, mật vàng, không có gì để nôn nhưng cứ há mồm cho nước chảy ra và sau cùng là ra một ít máu.

Các đồng chí có kinh nghiệm trên tàu đến xem, xác định do nôn oẹ nhiều quá, họng bị căng ra và chảy máu ở các vi ti huyết quản nên không ngại gì cả. Đi thêm một, hai ngày nữa thì sẽ hết nôn oẹ.

Chuyến tàu của chúng tôi đã đi được 5 ngày 4 đêm, tuy gặp rất nhiều tàu buôn, tàu đánh cá ngoài khơi xa nhưng không gặp một trở ngại nào. Tàu cũng tốt. Các đồng chí thủy thủ nói rằng cho đến giờ phút này thì đây là một chuyến đi thông đồng bén giọt. Khi tàu bắt đầu đi vào biển Miền Nam thì cũng là lúc có điện của cấp trên cho biết trên đường tàu đi vào, sẽ gặp hai tàu của địch đi tuần tiễu, cần theo dõi sát để xử lý phù hợp. Vào đến khu vực ngang với hải phận phía Nam người tôi đã trở lại hoàn toàn tỉnh táo. Tôi suy nghĩ rằng đây là một hoạt động vận chuyển rất độc đáo cho cách mạng Việt Nam.

Suốt một khoảng thời gian dài chúng tôi đi đến hải phận quốc tế. Bất ngờ, từ ngoài khơi, tàu phóng vào khoảng giữa ở một điểm nào đó mà địch không nghi ngờ để đi đến đích đã định.

Mọi người trên tàu chuấn bị rất khẩn trương để sẵn sàng ứng phó chuẩn bị chiến đấu. Chúng tôi đươc phổ biến thêm là: Khi gặp địch, phải hết sức bình tĩnh và hoàn toàn theo lệnh của thuyền trưởng. Nếu gặp địch tới gần, xét thấy tàu của ta không đi vào được nữa thì cho xuồng xuống biển và chúng tôi xuống đó có người bơi đưa vào bờ. Các thuỷ thủ sẽ ở lại chiến đấu để bảo vệ tàu.

Sau này tôi được biết rằng ở trong tàu chúng tôi đi có 3 tấn thuốc nổ, trường hợp nguy hiểm nhất, ta không còn cách nào để bảo vệ tàu nửa thì sẽ cho nổ 3 tấn thuốc đó và phá huỷ tàu luôn.

Thực tế trên con đường biển này cũng đã xảy ra một vài trường hợp như vậy. Mọi người trên tàu mong cho trời yên biển lặng không gặp địch để vào bến được an toàn... Bỗng đồng chí thuyền trưởng thông báo phát hiện có hai ánh sáng đèn phía trước... Đúng rồi, hai ánh sáng đèn đó đang đi thẳng về phía tàu của chúng tôi. Ngay lập tức đồng chí thuyền trưởng đến chỗ chúng tôi và nói dự kiến của mình là tàu của ta cứ tiếp tục đi thẳng đường đến một độ nào đó mà tàu tuần tiễu của địch có thể sắp phát hiện đường đi của tàu ta (tàu của ta không bật đèn) thì ta sẽ rẽ ngang để tránh chúng. Đồng chí vừa nói đến đây, một thủy thủ vào báo cáo là hai tàu của địch đã rẽ vòng sang hai bên. Thuyền trưởng lên quan sát và quyết định mở hết tốc lực đi thẳng vào hướng đã định nhưng mọi người vẫn theo dõi hai tàu của địch. Đi một quãng xa, hai tàu của địch vòng lại đi vào theo hướng tàu của ta. Đúng lúc này có một cơn gió mạnh, sóng đánh trùm lên tàu của ta, tàu địch nhẹ hơn nên dập dềnh... địch không phát hiện được mục tiêu. Thế là thoát! Mọi người thở phào nhẹ nhõm vì qua được một tình huống hiểm nghèo.

Tàu tiếp tục đi, các thuỷ thủ cho biết không lâu nữa là chúng ta đến bến, đến khu vực đã định và thuyền trưởng cho đánh tín hiệu nhưng không thấy trong bờ trả lời! Lúc đó là vào khoảng 3 giờ sáng, nếu bến bắt được tín hiệu, ra đón tàu vào, mọi việc bốc xếp hàng xong xuôi, cất giấu tàu rồi trời mới sáng.

Vào giờ này, nhìn ra biển thấp thoáng đã có những con thuyền đánh cá của dân ra khơi... Bỗng dưng tàu bị chựng lại, đáy tàu kêu lạo xạo, mắc cạn rồi! Từ hôm bắt đầu đi đến nay, quan sát thuyền trưởng, chúng tôi thấy đồng chí rất bình tĩnh trước những tình huống khó khăn, nhưng lần này thấy anh bồn chồn lo lắng. Anh cho tàu lùi lại nhưng không thoát được bãi cạn... Trên một vùng biển không xa bờ lắm một chiếc tàu nổi chềnh ếnh, nếu trời sáng thì làm sao mà giấu được kẻ địch, đến nước này thì thật là gay cấn!

Thấy tàu mắc can, một số thuyền đánh cá của dân lùi ra xa hơn mà không dám đến gần; có lê la họ không hiểu là tàu gì, tránh xa để khỏi bị liên lụy phiền phức... Nhưng có một chiếc thuyền đánh cá ở gần hơn lảng vảng đi lại. Một đồng chí thuỷ thủ gọi to: "Xin bác cho chúng cháu hỏi thăm". Chiếc thuyền vẫn từ từ đi ngang không lui ra xa mà cũng chẳng đến gần tàu. Đồng chí thuỷ thủ khác giọng Nam Bộ lại gọi to: "Xin cho chúng cháu hỏi thăm bác ơi!"... Thuyền đi tới gần tàu. Khi nhìn rõ có hai người đàn ông, một người trạc gần 60 tuổi và một người khoảng 40 tuổi, anh thuỷ thủ nói: "Tàu chúng cháu chở chiến lợi phẩm bị mắc cạn, nhờ bác cho biết đây là đâu và làm thế nào để ra khỏi nơi này".

Ông già hỏi lại là các chú ở đâu tới mà giờ này đến đây để bị mắc cạn? Không chờ trả lời, ông già nói luôn là tôi biết rồi, cho tôi gặp chú chỉ huy. Chúng tôi mừng nhưng cũng còn nghi ngại. Ai cũng theo dõi từng cử chỉ của ông gia. Đồng chí thuyền phó, người Nam Bộ đến gặp ông già và ông ta nói ngay rằng: "Tôi thấy tàu mắc cạn, thấy im lặng, tôi đoán ngay là tàu của ta từ ngoài Bắc, tàu của Bác Hồ đưa vào. Nếu tàu của bọn ngụy thì chúng làm ầm lên và bắn súng gọi nhau để cứu trợ. Bây giờ các chú nghe tôi, trương ngay lá cờ 3 sọc lên, đề phòng trời sáng mà ta chưa ra khỏi chỗ này, máy bay của nó đi qua sẽ không chú ý tới. Những gi nặng ở trên tàu các chú đưa xuống một số thuyền của chúng tôi, tôi cho gọi bà con đến. Khi đồ nặng bớt đi, tau sẽ nổi lên, tôi sẽ dẫn các chú ra lạch để vào bờ. Khi ra lạch, các đồ nặng lại đưa lên tàu trả các chú. Cần phải làm nhanh, nếu trời sáng thì dễ lộ lắm, nguy hiểm".

Ông già nói thêm: "Chúng tôi là dân ở trong ấp chiến lược nhưng lòng chúng tôi không ở ấp chiến lược đâu! Những thuyền mà tôi gọi đến cũng có một vài tên chỉ điểm của Mỹ Ngụy; không gọi họ đến thì họ sẽ đi báo cho địch. Gọi họ đến họ không đi đâu được. Sẽ nói với họ rằng đây là tàu chở chiến lợi phẩm. Sau khi xong chúng tôi sẽ giám sát họ cả buổi đánh cá ngày hôm nay. Chiều về họ có báo cho địch, kẻ thù chả làm gì được các chú nữa. Các chú cứ an tâm đi!"

Qua chỗ cạn được rồi, ông già và một số thuyền dẫn tàu đi vào lạch. Đi một quãng nghe chừng đã ổn định, các hàng nặng ở các thuyền của dân lại đưa lên tàu. Chúng tôi cảm ơn đồng bào và đi tiếp được một đoạn đường dài thì bắt được liên lạc trong bờ, gặp người ra đón và vào bến an toàn. Tàu vào đến bến thì trời đã sáng rõ. Ai cũng mừng và vui sướng.

Tôi ở chiến trường Nam Bộ tất cả là 14 năm tròn tính từ ngay vào chiến trường cho đến khi lại trở về công tác tại Cục Bảo vệ Tổng cục chính trị (tháng 3/1978). Biết bao nhiêu là kỷ niệm ở chiến trường đánh Mỹ, nhưng kỷ niệm về chuyến đi vào Nam là sâu sắc của đời tôi.

Dù đã 34 năm trôi qua mà tôi vẫn nhớ như là mới xảy ra. Quên sao được con tàu không số với những thủy thủ gan dạ vững vàng, tinh tường khôn khéo lái con tàu tránh được bao hiểm nguy vào bến an toàn. Điều lắng đọng nhất là lần đầu gặp những người dân Nam Bộ, và chính họ, trong đó nổi bật là một ông già chí cốt với cách mạng, với tình nghĩa sâu đậm, sự tỉnh táo nhạy bén đã cứu con tàu thoát khỏi tình huống tưởng chừng không thể vượt qua.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn