Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

MỘT DANH TƯỚNG QUÂN SỰ TÀI BA

Trung tướng Vương Thừa Vũ là một trong những danh tướng quân sự tài ba, chiến công đã gắn liền với lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Ông không chỉ có nhiều công lao trong hai cuộc kháng chiến cứu nước, mà ông còn cống hiến hết mình cho nền khoa học và nghệ thuật quân sự Việt Nam hiện đại, luôn chăm lo tổng kết kinh nghiệm chiến đấu, nâng lên thành lý luận và khái quát một cách cô đúc, giản dị, dễ nhớ để huấn luyện cán bộ và chiến sĩ.

Cần Thơ11/08/2026Xã Ba Gia (Đoàn xã Ba Gia)4 lượt xem0 lượt chia sẻ
MỘT DANH TƯỚNG QUÂN SỰ TÀI BA

Trung tướng Vương Thừa Vũ tên thật là Nguyễn Văn Đồi, sinh năm 1910, tại làng Vĩnh Ninh, xã Vĩnh Quỳnh, huyện Thanh Trì, TP Hà Nội. Thuở nhỏ, ông theo cha sang Vân Nam, Trung Quốc sinh sống; lớn lên, làm công nhân xe lửa và năm 1937 học Trường Quân sự Hoàng Phố. Năm 1940, ông về nước, tổ chức hoạt động cách mạng. Từ năm 1941, tham gia phong trào cứu nước, ông đã bị thực dân Pháp bắt giam và năm 1942 bị đày tại trại giam Bá Vân, Thái Nguyên.

Dù ở trong tù, ông vẫn nêu cao chí khí chiến đấu, không chịu khuất phục trước đòn roi tra tấn của quân thù. Ngày 3-7-1945, ông tham gia bạo động giành chính quyền ở Nghĩa Lộ (Yên Bái) nhưng không thành, ông về Bắc Ninh gây dựng cơ sở cách mạng huấn luyện quân sự.

Với tài năng của mình, ông được cấp trên giao giữ nhiều trọng trách trong quân đội: Năm 1946 - Chỉ huy trưởng bộ đội Hà Nội; Khu trưởng Khu 11 (Hà Nội); chỉ huy quân sự Khu 2 bảo vệ Hà Nội; 1947 - 1948 - Khu phó Khu 4 rồi Phân khu trưởng Phân khu Bình - Trị - Thiên.

Tháng 4-1949, ông được giao nhiệm vụ tổ chức Đại đoàn 308 ở Việt Bắc; năm 1949 – 1954, ông là Đại đoàn trưởng đầu tiên Đại đoàn 308 kiêm Chính ủy Đại đoàn (1949 - 1951).

Từ năm 1949 đến 1954, ông đã chỉ huy chiến đấu tham gia nhiều chiến dịch, trong đó có Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954).

Ngày 28-9-1954, ông được thăng quân hàm Thiếu tướng và được cử làm Chủ tịch Ủy ban Quân chính Hà Nội cùng Đại đoàn 308 về tiếp quản Thủ đô; từ năm 1955 - 1963, ông là Tư lệnh Quân khu Hữu Ngạn, rồi làm Tư lệnh Quân khu 3.

Từ năm 1964-1980, ông được giao giữ chức Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam kiêm Giám đốc Học viện Quân chính, kiêm Tư lệnh Quân khu 4 (1964 -1971). Ông được phong quân hàm Trung tướng năm 1974.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn