MỘT ĐÊM Ở SỞ CHỈ HUY SƯ ĐOÀN
Đoạn kể nói về cuộc gặp gỡ ngắn ngủi giữa một nữ bác sĩ quân y và chồng là sư đoàn trưởng trên chiến trường Bình Định năm 1968. Sau nhiều năm xa cách, chị vượt qua nhiều gian khổ để vào thăm chồng, nhưng anh vẫn giữ nguyên tắc và yêu cầu chị trở về vì chiến trường quá ác liệt. Dù rất yêu thương nhau, họ phải chấp nhận chia tay để hoàn thành nhiệm vụ. Đoạn văn thể hiện tình yêu sâu sắc của vợ chồng trong chiến tranh, sự hy sinh thầm lặng và tinh thần đặt nhiệm vụ Tổ quốc lên trên tình riêng.
Vợ chồng tôi chia tay nhau lần đầu năm 1964. Anh vào chiến trường miền Nam. Tôi ở lại miền Bắc tiếp tục học thêm chuyên môn và chăm sóc ba con nhỏ. Hơn một năm sau, cuối năm 1965 tôi cũng theo bước chồng tôi vào chiến trường, với cương vị quân y sĩ khoa sản. Nhiệm vụ của tôi là chăm sóc sức khỏe trung đoàn nữ thanh niên xung phong trên đường dây 559. Trung đoàn chúng tôi toàn là những cô gái khỏe mạnh từ Thanh Hóa, Quảng Bình, Nam Định, Ninh Bình và một số tỉnh miền Bắc khác, tuyển chọn vào đây. Vậy mà chỉ trong một thời gian, bom đạn, ốm đau, bệnh tật, đói khát và biết bao khó khăn, phức tạp của nữ giới đã làm chúng tôi xuống sức một cách nhanh chóng. Chỉ mới một năm làm việc ở đường Trường Sơn mà các cô gái trẻ đẹp đã mất đi phần lớn vẻ duyên dáng, mượt mà của giới mình.
Biết được sức khỏe và khó khăn của trung đoàn, cấp trên đã điều động toàn đơn vị trở ra miền Bắc điều dưỡng và công tác ở tuyến ngoài. Tôi được các anh cấp trên cho biết, chính Bác Hồ sau khi nghe báo cáo về cuộc sống của chúng tôi ở Trường Sơn đã chỉ thị đưa trung đoàn chúng tôi ra Bắc.
Cuối năm 1967, sau khi tốt nghiệp bác sĩ, tôi tiếp tục làm đơn xin vào chiến trường miền Nam một lần nữa. Tôi tâm niệm rằng mình sinh ra trên đất miền Nam thì không lý do gì lại vắng mặt trong cuộc chiến tranh giải phóng chính quê hương mình. Một điều khác cũng không kém lôi cuốn, thôi thúc tôi là sẽ có cơ hội gặp chồng tôi. Thực tế đã có không ít các cặp vợ chồng gặp nhau ở chiến trường. Các anh ở Cục Quân y và Bộ Quốc phòng không muốn cho tôi đi với lý do, chồng tôi đã đi rồi, các con tôi còn nhỏ... Một vài bạn thân cũng khuyên can, nhưng ý tôi đã định, tôi quyết thực hiện cho bằng được. Và thế là tôi trở lại chiến trường lần thứ hai. Lần này tôi được quân khu giao nhiệm vụ làm việc tại khoa Quân y Viện 17 ở trên đất Quảng Nam, quê hương thân thiết của tôi. Chồng tôi, khi đó làm sư đoàn trưởng sư đoàn Sao Vàng đang chiến đấu ở chiến trường Bình Định.
Sau một thời gian công tác ở Quảng Nam, tôi đề nghị Quân khu cho phép vào Bình Định thăm chồng. Anh Chu Huy Mân, anh Giáp Văn Cương, anh Đặng Hòa và anh Nam Khánh và các anh trong bộ Tư lệnh hồi đó tính toán mãi, cuối cùng mới đồng ý cho tôi đi. Anh Chu Huy Mân còn nói vui: "Nếu sư Ba cần cô Trang cứ ở lại trong đó, chúng tôi không "truy tìm" đâu mà lo".
Được các anh đồng ý cho đi, tôi mừng đến chảy nước mắt. Tôi vội thu xếp khăn gói lên đường cho kịp với đoàn anh Nam Khánh, anh cũng về sư đoàn.
Quãng đường từ Quảng Nam vào Bình Định thật khó khăn, cực nhọc. Suốt ngày leo dốc, lội suối đá, tránh bom tọa độ. Càng vào sâu các tỉnh ở miền trong, mức độ ác liệt, khó khăn càng không thể tưởng tượng nổi.
Dọc đường vào, tôi gặp từng đoàn, từng tốp người ra, vào tấp nập, khiến tôi càng quyết tâm đi cho đến đích. Nhưng sức tôi có hạn. Bệnh sốt rét đã níu chân tôi. Mấy ngày đầu còn theo kịp anh Nam Khánh, sau tôi sợ ảnh hưởng đến kế hoạch của đoàn nên lùi lại đi một mình. Và cứ như vậy, ngày đi, đêm nghỉ. Có ngày đến được trạm giao liên nhưng cũng nhiều lần mới đi được nửa đường thì trời đã tối. Nghe anh em giao liên nói, nếu phải dừng lại giữa đường thì nên ngủ ở một hòn đá giữa suối nước, nếu không sẽ bị hổ ăn thịt. Vậy là hôm nào không tới được trạm, tôi tìm một hòn đá lớn giữa suối, ngồi tựa vào ba lô mà ngủ gà ngủ gật cho hết đêm. tuy vậy, tôi không núng. Gian khổ, nguy hiểm không còn là vấn đề chủ yếu, tôi chỉ nóng lòng mong vào tới Bình Định. Và nếu cần, tôi sẽ ở lại sư đoàn như một chiến sĩ quân y, để có điều kiện chăm sóc, lo cho sức khỏe của chồng tôi.
Khắc đi, khắc đến, đúng như vậy. Vào một buổi trưa, tôi tới sở chỉ huy sư đoàn Sao Vàng. Một anh cán bộ, hông đeo súng ngắn còn trẻ nhưng đôi mắt trũng sâu, thâm quầng có lẽ vì mất ngủ, xem giấy tờ rồi nói với tôi:
- Mời chị tạm nghỉ ở nhà khách, họp xong thủ trưởng sẽ ra ngay.
"Nhà khách" nói cho sang vậy thôi, thực ra chỉ là cái lán lợp lá nón nâp dưới một lùm cây, giống như lán nghỉ của chị em chúng tôi ở đường dây 559. Nhưng không hề gì, tôi đã quen với chiến trường từ lâu.
- Từ đây đến chỗ anh Giang còn bao xa, đồng chí? - Tôi hỏi:
- Gần thôi chị ạ, chỉ năm phút đi bộ.
- Vậy thì cho tôi vào có được không?
- Dạ, không được, sư trưởng nguyên tắc lắm, chị thông cảm.
- Chả lẽ nguyên tắc lại áp dụng luôn cả với vợ mình - Tôi vừa nói vừa cười. Anh cán bộ trẻ vui vẻ đáp:
- Chị cũng là cán bộ, lại là vợ thủ trưởng, chắc chị hiểu tính nguyên tắc của thủ trưởng. Nhất là ở thời điểm này, đơn vị đang triển khai tác chiến. Nghe anh cán bộ nói vậy, tôi thầm nghĩ: Đúng, anh Giang là người sống nguyên tắc. Nguyên tắc với chính mình và những người xung quanh, kể cả vợ con.
Nghe chừng thuyết phục anh cán bộ bảo vệ không xong, tôi đành vào lán mắc võng nghỉ. Bấy giờ trong đầu óc tôi bâng khuâng một câu hỏi: Tại sao biêt vợ lặn lội vào đây mà anh ấy không ra đón? Trước đó mấy mấy phút, tôi tưởng tượng khi biết vợ đến thăm anh sẽ dừng họp ra đón ngay. Mấy năm rồi còn gì. Lúc đó tôi sẽ sà vào lòng anh mà khóc, mà kể anh nghe hai lần vào chiến trường, chuyện các con gửi quà cho bố. Chuyện bị địch phục kích ở sông E - mơ, bị đạn bắn vỡ hết cả ba lô kính lão, mà người không việc gì. Rồi chuyện ô tô bị đổ ở trạm Buôn Phiên mà anh em gọi đùa là trạm "Buồn Phiền", mình bị gãy xương vai và bàn chân. Chị Tùng, vợ anh bí thư tỉnh uỷ Đắc Lắc chết tại chỗ... còn một chuyện khác cũng rất buồn cười mà tôi cũng muốn kể cho anh. Đó là chuyện khi tôi làm đơn tình nguyện vào chiến trường, lẽ ra phải "Kính gửi đồng chí Phạm Ngọc Mậu", không hiểu thế nào tôi lại viết "Kính gửi đồng chí Hồ Tùng Mậu". Anh Mậu gặp tôi vừa cười vừa nói đùa: "Này cô Trang ơ, tôi là Phạm Ngọc Mậu, còn cụ Hồ Tùng Mậu đã đi thăm các cụ Các Mác lâu lắm rồi, muốn gửi đơn cho cụ ấy cô phải gặp Diêm Vương chớ sao lại đưa cho tôi". Biết mình nhầm lẫn một cách ngớ ngẩn tôi ngượng chín cả người.
Thế rồi cái câu hỏi "Tại sao anh ấy không ra đón?" lại xuất hiện trong đầu tôi. Tôi bỗng thấy tủi thân. Cổ họng nghẹn đắng, nước mắt trào ra lúc nào không biết. Giận hay ghen, tôi cũng không rõ. Tôi có nghe nói các thủ trưởng thường được các cô y tá, công vụ tuyển chọn từ đồng bằng lên, chăm sóc rất tận tình. Và biết đâu đấy, anh Giang cũng chỉ là người bằng xương bằng thịt... Tôi hết đứng lại ngồi , rồi đung đưa cánh võng nhìn cây rừng, nghe tiếng ve sầu kêu, nghe vượn hú từng hồi, càng thấy lòng bồi hồi, não ruột. Không đói, nhưng tôi vẫn bốc từng nắm sắn trà mà đồng bào dân tộc mới gửi cho, nhai ngấu nghiến để đốt cháy thời gian. Chốc chốc tôi lại hỏi anh cán bộ bảo vệ: "Chú ơi, tôi phải chờ bao lâu nữa?... "
Mối một phút chờ đợi lúc này sao dài đằng đẵng. Tôi bỗng nghĩ ra cách dỡ toàn bộ ba lô rồi xếp lại, để giết thời gian. Nhưng thực ra, trong ba lô chẳng có gì nhiều. Vài bộ quần áo. Một hộp thuốc quân y. Nhưng khi xếp đến gói quà của các con gừi cho bố thì tôi thấy bủn rủn cả tay chân. Ôi các con bé bỏng đáng thương của mẹ. Hiện các con đang sống ra sao?... Tôi bần thần dỡ ảnh của Trinh (con lớn), của Lê (con thứ hai), của Phương (con gái út) ra xem. Các con tôi đang mỉm cười như kích lệ lòng kiên nhẫn của tôi. Các con còn hát; còn đọc thơ thu vào băng cát - sét gửi cho bố. "Giá bố nó biết, chắc mừng lắm" - Tôi nghĩ thầm như vậy.
Cho đến chiều, đồng chí liên lạc mới ra trạm, mời tôi vào gặp "thủ trưởng". Tôi vẫn còn bực mình anh ấy quan cách quá, chỉ dăm phút đồng hồ mà không thèm ra đón. Còn mình ... mình đã lặn lội hàng ngàn dặm đường...". Nhưng thôi, trách anh ấy làm gì, lúc này người chỉ huy còn có biết bao nhiêu việc... hãy bỏ qua cho anh ấy. Tôi tự nhủ và thấy thanh thản hơn.
Đúng như anh cán bộ ở trạm nói, năm phút sau tôi đã tới sở chỉ huy tiền phương sư đoàn. Nhìn thấy anh Giang, tôi định chạy nhào đến ôm chầm lấy anh sau những năm xa cách. Nhưng nhìn ánh mắt không vui, không buồn của anh, tôi sững lại ngay. Tôi cố kìm nén để không bật ra tiếng khóc vì tủi thân. Cũng may, anh Nam Khánh, anh Huỳnh Hữu Anh, anh Sơn Diệp trong ban chỉ huy sư đoàn đều có mặt, chúc mừng buổi hội ngộ đặc biệt của vợ chồng tôi. Mới nói chuyện qua loa được một lúc, anh Giang bỗng đứng dậy nói với mọi người: "Thôi ta hành quân cho kịp".
Vậy là lại hành quân. Anh Giang và ban chỉ huy sư đoàn đi trước, tôi đi sau với cơ quan. Một đồng chí cán bộ tác chiến cho biết, chiến dịch đã bắt đầu. Và sở chỉ huy đang dời đến một quả đồi gọi là Hòn Nọc, để chỉ huy cả hai hướng Mỹ Trinh, Mỹ Lộc (huyện Phù Mỹ) và khu thung lũng Hoài Ân. Anh cán bộ giải thích, thời điểm này, chiến trường Bình Định đặc biệt gay cấn. Sư đoàn không vận số một của Mỹ qua hai mùa khô đã rút đi, nhưng chúng lại đưa lữ đoàn xe tăng vào thay thế. Vậy là hết "không vận", ta lại phải đối phó với "thiết xa vận", hết "kỵ binh bay" lại phải đánh "kỵ binh thiết giáp". Đối tượng nào cũng có cái mạnh kinh khủng. Vì vậy sư đoàn Sao Vàng vừa đánh, vừa phải tìm ra cách đánh. Anh cán bộ vừa đi vừa nói một cách bình thản rằng, cũng đã có những trận ta tập kích diệt được hàng chục xe tăng, hàng đại đội lính bộ binh Mỹ. Nhưng xem ra vẫn chưa ổn, ỷ vào số đông, chúng chưa hề chùn bước. Hàng trăm xe tăng, xe bọc thép có phi pháo yểm trợ hàng ngày vẫn chia thành nhiều hướng càn dọc, quét ngang ở vùng giáp ranh hai huyện Phù Mỹ và Hoài Ân. Còn đối với ta ý chí thì dư thừa, nhưng vũ khí chống tăng thì lại quá thiếu. Vậy có đánh được hay không, có hạ được uy danh của "kỵ binh thiết giáp" như hạ uy danh "kỵ binh bay" được hay không, hoàn toàn phụ thuộc vào cái đầu của những người chỉ huy. Đó là điều nhức nhối nhất, không những chỉ với sư đoàn, mà cả quân khu, cả địa phương đang tập trung giải thoát cho được.
Vốn làm nghề y, nên khi nghe anh cán bộ tác chiến nói về chiến thuật, về vũ khí và về cách đánh v.v... tôi chỉ hiểu được một phần. Nhưng tôi biết đại thể, tại khu vực giáp ranh này đang diễn ra một cuộc đọ sức hết sức quyết liệt. Một bên là sư đoàn Sao Vàng mà chồng tôi đang làm sư đoàn trưởng và các lực lượng địa phương tỉnh Bình Định. Một bên là hàng trăm xe tăng, hàng ngàn lính Mỹ, chưa kể đến lực lượng quân nguỵ cộng hoà, lính bảo an và phi pháo dày đặc. Tôi đã hiểu phần nào và càng thấy lo cho anh.
Vừa hành quân, tôi vừa tìm cách dò hỏi về tình cảm cuả chồng tôi đối với người chung quanh, đặc biệt là các cô gái phục vụ, còn rất trẻ. Biết đâu ở chiến trường lâu ngày, xa vợ, xa con lại là người chỉ huy cao nhất... Tôi cố nén cơn ghen tức chợt bùng lên, làm như vô tình hỏi anh cán bộ đi cùng:
- Này, khi thủ trưởng nghỉ ngơi, các cô y tá, công vụ có phục vụ chu đáo hay không?
- Có chứ - Anh cán bộ trả lời hồn nhiên.
- Vậy họ ngủ chung hầm bò hay sao?
- Không, cái đó không. Thủ trưởng ở hầm riêng, cần cái gì thủ trưởng mới gọi.
Thế cũng đủ rồi... tôi không hỏi thêm câu nào nữa. Hèn gì anh ấy lạnh nhạt với tôi thế. Cái máu phụ nữ của tôi lại nổi lên như một cơn lốc khiến tôi hết sức đau đớn.
* *
Sở chỉ huy tiền phương sư đoàn đóng trên mỏm một quả đồi cây xanh. Ở đây có thể quan sát được cả khu vự đồng bằng và vùng giáp ranh rừng núi. Tôi không thông thao địa hình, nhưng anh Giang nói điểm cao này rất bất ngờ, có thể tránh được bom B52 và thuận tiện cho việc chỉ huy tác chiến.
Đêm ấy, mồng 3 tháng 5 năm 1968, sư đoàn đã dàn đội hình chuẩn bị nổ súng. Vợ chồng tôi nghỉ ở một căn hầm bò. Các chú vệ binh, công vụ rất khéo tay đã ken những cây rừng thành bàn, ghế và cả chõ nghỉ lưng nom phẳng phiu xinh xắn. Vốn đã sống ở Trường Sơn mấy năm, tôi thấy chỗ nghỉ thế này cũng sang lắm rồi. Dưới ánh đèn dầu nhỏ, tôi nhìn anh, anh nhìn tôi... rồi bỗng dưng anh ôm chầm lấy tôi. Tôi khóc. Bao nhiêu nghi ngờ, phiền muộn như được bù đắp. Anh gầy tọp đi. Tôi xúc động đến ngạt thở, một lát sau mới tỉnh táo trở lại được. tôi cười, tay với ba lô định khoe với anh món quà các con gửi vào cho bố mà tôi đã giữ gần một năm nay. Nhìn nét mặt, tôi thấy anh nghiêm hẳn và trầm lặng. Tôi thầm hiểu anh có điều gì đó băn khoăn chưa tiện nói ra. Im lặng một lúc anh hỏi:
- Em vào đây làm gì?
Chao ôi, nghe anh hỏi mà tim tôi se thắt lại... Tôi thầm nghĩ: Ba năm trời xa cách nhau, hôm nay mới gặp mà sao anh lạnh lùng đến thế. Song tôi vẫn giữ vẻ bình thản trả lời:
- Em đến thăm anh. Nếu có điều kiện em sẽ ở lại công tác và gần gũi chăm sóc anh. Vừa nói tôi vừa trao gói quà các con gửi cho anh.
Anh cầm gói quà một cách thờ ơ, rồi để ngay xuống góc bàn. Nhìn cử chỉ nét mặt của anh, tôi bỗng choáng váng, nghẹn ngào.
- Sao lại thế anh Giang? - Tôi như người hụt hơi, nói không ra tiếng, nước mắt trào ra giàn giụa.
- Anh Giang ơi, chẳng nhẽ mấy năm mới gặp nhau, có biết bao chuyện cần nói, cần bàn... anh không muốn nghe sao? Biết thế em chẳng cần xông pha vào nơi bom đạn, xa xôi này làm gì... hay anh đã thay lòng đổi dạ với mẹ con em. Anh cứ nói đi. Em đủ sức chịu đựng tất cả.
Tôi dằn hắt, hờn dỗi. Anh không nói, chỉ lắc đầu và ôm chặt tôi hơn như sợ tôi tuột khỏi vòng tay. Một lúc sau anh mới nhỏ nhẹ nói:
- Hãy hiểu cho anh, Trang.
- Từ trước đến nay em hiểu, nhưng bây giờ thì em không thể hiểu.
- Em hãy thương anh và hiểu anh một cách đầy đủ.
- Vậy anh muốn em hiểu thế nào về người chồng không muốn gần vợ?
- Anh thương yêu em, thương yêu các con hơn bao giờ hết, đặc biệt là lúc này.
- Thương mà anh lạnh nhạt với mẹ con em như vậy đó. Thương mà không muốn cho em ở gần. Thương mà anh chẳng hỏi han gì đến các con từ khi anh vào chiến trường. Thương mà anh ... - Tôi chì chiết. Anh vẫn ngồi yên. Bất giác tôi nhìn mặt anh. Anh khóc. Đây là lần thứ hai tôi thấy anh khóc. Lần thứ nhất anh khóc trước mẹ tôi.
- Vào thăm anh thì được, nhưng ở lại thì không được.
- Vì sao?
- Chiến tranh mà. Chúng mình còn có các con nhỏ...
- Em đã thu xếp đâu vào đó cả rồi.
- Cũng không ổn, ở chơi với anh đêm nay, sáng mai em phải về quân khu ngay. Có vậy anh mới yên tâm hoàn thành nhiệm vụ. Giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà anh sẽ về ở với mẹ con em mãi mãi - Anh thở một hơi dài như lấy sức trước khi làm một công việc nặng nhọc, rồi nói tiếp - Trang ơi, em đừng day dứt anh mà tội nghiệp cho cả hai người. Không lúc nào anh quên em và các con. Khi vào chiến trường anh đã giấu một tấm ảnh em và các con vào gấu áo, để lúc nào anh cũng có em và con bên cạnh.
Anh nói nhỏ nhẹ, từ tốn, khiến lòng tôi dịu đi. Anh nhắc tới những kỉ niệm khi tôi còn là y tá phục vụ ở Bệnh viện quân y 108, vì thương yêu anh mà tôi bất chấp hoàn cảnh để kết tóc xe tơ cùng anh. Hoàn cảnh anh ngày đó thật éo le. Anh đi Nam tiến năm 1946, vợ ở nhà bị bọn cường hào ức hiếp đến chết. Đứa con gái duy nhất của anh, cháu Lê Trinh côi cút, đói rách, bệnh tật, không nơi nương tựa... Sau khi tập kết ra Bắc năm 1954, anh mới tìm được con gái và gặp tôi. Rồi chúng tôi xây dựng với nhau. Cháu Trinh coi tôi như mẹ đẻ.
Hồi đó năm 1957, anh là trung đoàn trưởng nhưng chưa có chế độ lương. Mỗi tháng hai mươi nhăm đồng phụ cấp. Tôi làm ở khoa phụ sản trong bệnh viện. Có lần sơ ý để mất tiền của bệnh nhân anh đã phải bỏ số phụ cấp ít ỏi của mình trừ nợ dần cho tôi. Nhưng cái đó không quan trọng, khó khăn nhất là bà mẹ tôi không chịu nhận anh làm con rể, vì anh đã có một đời vợ và có con.
Mẹ rất thương nó, nhưng mẹ không đồng ý cho con làm vợ lẽ - Mẹ tôi nói.
Một buổi sáng, tôi đưa anh đến gặp mẹ. Với nét mặt buồn rầu anh nói:
- Thưa mẹ, chúng con yêu thương nhau thực sự. Trang đã rất hiểu hoàn cảnh của con... Mẹ cho phép chúng con xây dựng với nhau. Con không còn cha, còn mẹ, cháu nhỏ cũng mất mẹ - Nói đến đó anh khóc. Mẹ tôi ngồi yên như pho tượng Phật - Nếu xây dựng với Trang - Anh nói tiếp - Đời con còn có thêm tình thương của người mẹ mà bao năm con đã mất. Nghe nói đến đó, mẹ tôi đứng dậy ra ngoài sân chấm nước mắt. Khi vào trong nhà mắt mẹ còn đỏ hoe. Mẹ cầm lấy tay anh và cầm tay tôi chập lại với nhau rồi nói với giọng xúc động: "Thôi, Giang con đừng nói nữa, mẹ đồng ý cho các con xây dựng với nhau. Các con hãy mãi mãi thương yêu nhau... ".
Ngọn đèn dầu trong hầm lúc mờ lúc tỏ. Thi thoảng gió lọt vào lay động khiến nó nghiêng ngả, làm cho khuôn mặt anh vốn gầy trở nên hốc hác hơn. Nhìn chồng, tôi như đứt từng khúc ruột. Còn anh, anh vẫn đăm chiêu nhắc lại chuyện cũ. Nhắc lại chuyện đưa cô dâu từ Bắc Giang về làng Giàng, Lục Ngạn hơn hai chục cây số bằng xe trâu của chú em. Cưới nhau rồi, chúng tôi vẫn ở trạm khách 354 (phố Đội Cấn), tài sản chẳng có gì đáng giá. Anh còn đọc bài thơ tôi viết sau ngày cưới, trong đó có câu "Màn không, chăn thiếu, gần nhau ấm rồi..."
Nói chuyện với tôi trong hầm, nhưng chốc chốc anh phải dừng lại im ắng nghe ngóng. Bên ngoài sở chỉ huy có tiếng lao xao. Tôi đoán chừng các anh trong Ban chỉ huy cũng không ngủ, đang giải quyết công việc khi vắng anh. Biết vậy, nhưng tôi tảng lờ như không có chuyện gì xảy ra, mong giây phút êm ả bên nhau được kéo dài thêm. Khoảng nửa đêm, có tiếng bom B57 và tiếng pháo biển gầm rít, rền rĩ ở dãy núi bên cạnh. Anh choàng dậy đi ra ngoài, nét mặt lộ rõ vẻ lo lắng. Lát sau anh trở vào ngồi xuống, buồn rầu nói với tôi: "Không khéo nó đánh trúng đội hình hành quân của ta...".
Gần sáng. Không gian lúc đó im lặng thật dễ sợ. Không tiếng súng, không tiếng người, không tiếng côn trùng, không cả những ánh pháo vàng bợt từ phia Phù Mỹ dội sang...
- Em còn điều gì băn khoăn nữa không? - Anh hỏi tôi.
Được dịp thổ lộ rõ ý định của mình. Trước tiên, tôi dở gói quà của các con gửi cho anh. Trong đó có ba lá thư, một cuộn băng cát - sét. Con gái út còn gửi cho bố một con búp bê ngộ nghĩnh nữa. Anh chăm chú lật từng trang thư. Tay anh run run, hình như anh khóc. Tôi không nói gì, cứ để cha con anh tâm sự với nhau. Không khí trong căn hầm bò chật chội lúc này mới dễ chịu làm sao? Khi thấy anh thẫn thò xếp lại những tấm ảnh, tôi mới ngỏ với anh ý định xin ở lại sư đoàn. Vừa nghe, anh đã nhìn thẳng vào mắt tôi, như trách móc, như thương cảm. Anh bảo rằng đời anh có hai việc lớn phải làm. Việc thứ nhất là giải phóng quê hương: Hà Bắc là nơi anh sinh ra, con miền đất Phú Yên - Khánh Hoà là nơi anh trưởng thành. Việc thứ hai là giải phóng hoàn toàn miền Nam. Mặc dù anh góp sức mình đã quá nửa đời người, nhưng cả hai việc lớn đấy vẫn chưa hoàn thành. Nhưng anh sẽ phấn đấu suốt đời để cho đạt được hai mục đích ấy. "Đây cũng là lời nguyền của anh không thể không làm được. Vì vậy, em cần giúp anh...".
- Thì em có cản trở gì anh đấu. Em chỉ mong được ở gần anh, giúp đỡ anh dù ở cương vị nào cũng được.
Anh ngồi bần thần ngẫm nghĩ một lúc lâu. Tôi mừng là mình đã thuyết phục được anh. "Nếu ở sư đoàn bộ không tiện em sẽ xuống bệnh xá". Tôi nói thêm. Anh thở dài, không trả lời vào đề nghị của tôi.
- Em biết không, sư đoàn này đã chiến đấu liên tục ba năm. Ba năm trời đã cướp đi gần một vạn sinh mạng, tương đương với quân số của một sư đoàn. Mới ngày hôm nay thôi, cũng đã có hàng trăm cán bộ, chiến sĩ thương vong. Nếu cứ cái đà này, sự tổn thất của đơn vị còn đến mức độ nào nữa?... Anh rất thương yêu em và các con, nhưng anh không thể chấp nhận em ở lại - Rồi anh nói về bộ đội - Sau đợt tiến công đầu năm, địch có phần hồi phục, và dồn đẩy sư đoàn đến giai đoạn khó khăn hơn. Ngay bữa cơm của sư đoàn trưởng cũng chỉ được một phần ba là gạo. Bộ đội hy sinh bằng hàng trăm cách khác nhau. Đánh đồn, hy sinh. Đi công tác , hy sinh. Chống càn, hy sinh. Mưa lũ, núi lở cũng hy sinh. Bắn nhầm nhau, hy sinh. Đói quá tự động đi nhổ sắn của đồng bào dân tộc, trúng cạm bẫy cũng hy sinh. trong chiến đấu trực tiếp với địch hy sinh một phần, thì hy sinh ngoài chiến đấu có khi đến hai, ba phần. Rồi anh nói đến công việc của người chỉ huy, mỗi ngày có đến hàng trăm báo cáo điện khẩn của cấp dưới và hàng chục mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên; cái nào cũng phải xem ngay, giái quyết ngay. Anh bảo mỗi khi bước vào chiến dịch anh không còn thời gian để nhớ, để buồn và để làm bất cứ việc gì riêng tư...
Nghe anh nói, tôi không nghi ngờ gì tình cảm tốt đẹp và sâu sắc của anh. Nhưng tôi vẫn muốn ở lại sư đoàn với động cơ hoàn toàn khác. Tôi muốn chia sẻ với các chiến sĩ mọi sự gian khổ, ác liệt một cách chân thành. Nghĩa là cùng sống, cùng chết với anh em. Thoạt nghe anh có vẻ dìu dịu, gật đầu. Anh nói với tôi có thể về bệnh xá, và không một ưu tiên nào so với mọi người. Tôi cũng chỉ mong vậy. Tôi thở phào, đinh ninh chuyện đã xuôi. Nhưng vài phút sau, anh bỗng đứng dậy xua xua tay:
- Không được, không thể được, dù sao anh em ở bệnh xá cũng không nỡ để em khổ sở, vất vả và như vậy sẽ không công bằng. Thôi, anh đề nghị em dừng ngay ý kiến đó lại - Rồi anh nói như ra lệnh: - Đêm nay thăm anh là được rồi. Từ ngày mai, chiến dịch chuyển sang đợt hai, chúng mình không còn điều kiện chuyện trò nữa đâu - Giọng anh bỗng trùng xuống, tha thiết - Nếu còn thương yêu anh, còn tin anh, em hãy nghe anh! Anh không muốn bàn đến chuyện này nữa!
Một loạt pháo nổ như sấm rền xung quanh sở chỉ huy. Khói, bụi mù mịt tràn vào hầm. Đèn vụt tắt. Hết loạt pháo nổ, khói tan, tôi nhìn ra cửa hầm thì trời đã sáng.
Bên ngoài, tiếng anh Nam Khánh, anh Huỳnh Hữu Anh và các anh trong cơ quan gọi nhau đi giao ban.
Anh lặng lẽ đứng dậy phủi bụi đất trên tóc, trên vai tôi. Rồi bất chợt anh ôm ghì chặt tôi vào lòng... anh nói với giọng đượm buồn:
- Thôi ta chia tay ở đây. Anh không đưa tiễn em được, hãy hiểu cho anh.
Tôi chưa kịp phản ứng thì anh đã quay ra thật nhanh. Tôi bàng hoàng, sững sờ đứng nhìn cái dáng cao, gầy của anh chui ra khỏi căn hầm. Tôi cũng thu xếp ba lô chuẩn bị lên đường. Cậu Thành, y tá cơ quan lúc ấy đã xách hai cái gói nhỏ, bọc ny lông xanh. Thành nói với tôi:
- Sư đoàn nghèo lắm, chỉ có vài lạng đường và ít gạo rang tặng chị. Chúng em chúc chị và các cháu mạnh khoẻ. Chị đi đường an toàn.
Hôm ấy là sáng mùng 4 tháng 5 năm 1968.
Một đêm ở sư đoàn sao mà ngắn ngủi. Nó ngắn ngủi tới mức tôi tưởng như trong đời không có đêm ấy. Vậy mà nó đã để lại một dấu ấn sâu đậm nhất trong suốt cuộc đời của tôi.



