Bài viết

MỘT ĐỜI LÍNH, MỘT ĐỜI NHỚ

Đồng chí Đỗ Xuân Tạc ● Sinh ngày : 2/6/1950 ● Địa chỉ : thôn Hưng Đạo Tây, xã Nam Đông Hưng , tỉnh Hưng Yên ( Đông Quang- Đông Hưng-Thái Bình cũ) ● Tham gia chiến tranh năm 1971-1983. ● Tham gia trận chiến tiêu biểu là chiến dịch Nguyễn Huệ và chiến dịch 710 ● Bắn rơi máy bay của Mỹ và được nhận bằng khen của Nhà nước về chiến dịch 710. ● Bị thương vào 8/8/1972 để lại chột 1/4 trên cẳng chân phải,xuyên mu bàn chân phải,chột kheo chân trái,sượt thuỳ trán trái và còn sót 1 số mảnh kim khí trên

Hưng Yên30/12/2025Vũ Thị Phương Anh - 12A10 ● Vũ Thị Yến Nhi - 12A10 ● Nguyễn Phương Ly - 12A10 ● Trần Thị Ngọc Anh - 12A10 (xã Đông Quan)13 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sau khi trò chuyện cùng ông và được ông chia sẻ lại quá trình cống hiến của bản thân

(Kể lại theo lời cựu chiến binh Đỗ Xuân Tạc)

Năm 1971 , ông Đỗ Xuân Tạc đã xung phong nhập ngũ. Ở độ tuổi còn rất trẻ, ông rời xa gia đình, quê hương để lên đường ra chiến trường. Ông kể, ngày đi không dám nhìn mẹ lâu, bởi chỉ cần nhìn thêm một chút thôi, ông sợ mình sẽ không đủ can đảm bước tiếp. Khi ấy ông còn sợ hãi, còn non nớt, nhưng trong lòng luôn có một suy nghĩ giản dị: đất nước còn chiến tranh thì thanh niên phải đi.

Sau thời gian huấn luyện, ông cùng đơn vị hành quân vào chiến trường qua đường Trường Sơn. Con đường Trường Sơn hiện lên trong ký ức ông là những cánh rừng nối tiếp nhau không có điểm dừng. Ban ngày bộ đội phải ẩn nấp tránh máy bay địch, ban đêm mới hành quân. Ba lô nặng trĩu, súng đạn luôn mang theo, chân phồng rộp, người mệt lả nhưng không ai dám dừng lại.

Lương thực tiếp tế vô cùng thiếu thốn. Mỗi người chỉ có những nắm cơm nhỏ, có khi cơm đã nguội cứng, phải ăn dè từng miếng. Có những ngày đói đến kiệt sức, nhưng vẫn phải tiếp tục hành quân và chiến đấu. Ông kể, trong hoàn cảnh quá thiếu thốn, khi quân Mỹ ướp xác đồng đội bằng đường, bộ đội ta đã phải cạy lớp đường đó ra để ăn cầm hơi. Nhắc đến chi tiết này, giọng ông chùng xuống, bởi đó là minh chứng rõ nhất cho sự gian khổ đến tận cùng của người lính trên chiến trường.

Khi mới ra chiến trường, lần đầu nghe bom nổ và đạn bay, ông thú nhận rằng mình rất sợ. Trong một trận đánh đầu tiên, ông còn lúng túng, cúi đầu xuống đất. Đúng lúc ấy, một đồng chí Thắng quê ở Quỳnh Côi đã nắm đầu ông ấn xuống đất và quát lớn:

“Muốn chết hay sao mà không chiến đấu!”

Ông nói, câu nói ấy khiến ông bừng tỉnh. Ông hiểu rằng nếu không vượt qua nỗi sợ, thì không chỉ bản thân ông gặp nguy hiểm mà còn ảnh hưởng đến cả đơn vị.

Ngay trong năm 1972, ông tham gia Chiến dịch Nguyễn Huệ tại chiến trường Đông Nam Bộ. Đây là một chiến dịch lớn và vô cùng ác liệt. Bom đạn trút xuống ngày đêm, mặt đất rung chuyển, khói lửa mù mịt. Ông và đồng đội phải đào công sự bằng tay trần, bám chốt giữ từng mét đất. Trong chiến dịch này, nhiều đồng đội của ông đã anh dũng hy sinh. Có người vừa còn nói chuyện, chỉ ít phút sau đã nằm lại chiến trường.

Ông kể, trong một trận đánh ác liệt, khi địch bắn phá dữ dội, một đồng đội trúng đạn ngã xuống. Không có cáng, không có thời gian, ông và những người còn lại phải đặt thi thể đồng đội lên lưng, vừa bò vừa kéo dưới làn đạn, ép sát người xuống đất để đưa bạn ra khỏi vùng nguy hiểm. Có lúc, họ phải nằm đè lên thi thể đồng đội để tránh đạn. Những hình ảnh ấy đã trở thành ký ức ám ảnh ông suốt cả cuộc đời.

Sau Chiến dịch Nguyễn Huệ, ông tiếp tục tham gia Chiến dịch 710. Trong chiến dịch này, đơn vị ông được giao nhiệm vụ chốt giữ và tiến công tại một khu vực cánh đồng trống trải. Kế hoạch đề ra là 7 ngày phải phá xong trận địa, nhưng do địch chống trả quyết liệt, thực tế chiến đấu kéo dài đến 10 ngày.

Ban ngày, địch dùng máy bay trinh sát và pháo binh bắn phá liên tục. Ban đêm, ông và đồng đội phải chúi mình giữa cánh đồng, bò từng chút một, lợi dụng bờ ruộng và mô đất để che thân. Mưa lạnh, bùn lầy, đói khát kéo dài khiến sức lực gần như cạn kiệt.

Chính trong Chiến dịch 710, ông Đỗ Xuân Tạc đã trực tiếp tham gia cùng đơn vị bắn rơi máy bay Mỹ khi chúng bay thấp để trinh sát và ném bom trận địa của ta. Việc bắn rơi máy bay không chỉ làm giảm hỏa lực của địch mà còn nâng cao tinh thần chiến đấu cho toàn đơn vị trong những ngày vô cùng gian khổ ấy.

Lương thực ngày càng cạn, mỗi người chỉ còn vài nắm cơm nhỏ, chia nhau ăn dè để tồn tại. Trong những ngày chiến đấu ấy, đồng đội tiếp tục hy sinh. Có người ngã xuống ngay giữa cánh đồng, ông và đồng đội lại phải đặt bạn lên lưng, bò tiếp trong im lặng, không kịp khóc, không kịp gọi tên, bởi chỉ cần dừng lại là cả đội hình sẽ gặp nguy hiểm.

Do sự chống trả quyết liệt của địch, 7 ngày dự kiến không đủ, cuộc tiến công kéo dài đến 10 ngày mới hoàn thành. Khi trận địa cuối cùng bị phá, nhiệm vụ hoàn thành, đơn vị của ông không còn đủ quân số như lúc xuất phát. Ông nói, điều khiến ông đau xót nhất không phải là lúc bom đạn nổ, mà là sau trận đánh, khi nhìn lại đội hình và thấy những chỗ trống không bao giờ được lấp đầy.

Trước khi kết thúc buổi trò chuyện, chúng tôi hỏi ông muốn nhắn gửi điều gì tới thế hệ trẻ hôm nay. Ông suy nghĩ một lúc rồi nói: “Điều quan trọng nhất là phải sống cho xứng đáng với những gì đã đánh đổi,cố gắng giữ gìn nền độc lập của nước nhà và học tập thật tốt’’.

Câu chuyện của ông Đỗ Xuân Tạc là minh chứng sâu sắc cho sự hy sinh thầm lặng của thế hệ thanh niên Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ. Từ một chàng trai còn sợ hãi, ông đã vượt qua Trường Sơn, tham gia Chiến dịch Nguyễn Huệ, rồi tiếp tục Chiến dịch 710, trực tiếp chiến đấu và góp phần vào thắng lợi chung của dân tộc. Những gì ông trải qua giúp thế hệ hôm nay hiểu rằng hòa bình không tự nhiên mà có, mà được đánh đổi bằng máu, nước mắt và cả những tháng ngày đói khát tận cùng.

Hình ảnh tư liệu về cựu chiến binh hiện nay là minh chứng cho sự hi sinh thầm lặng của những con người đã đi qua chiến tranh để giữ gìn hoà bình.

Dưới đây là một số thành tựu của ông:

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn