MỘT ĐỜI LONG ĐONG - Viết về Mẹ VNAH Nguyễn Thị Sảnh
Tôi đến thăm nhà mẹ Nguyễn Thị Sảnh, Bà Mẹ Việt Nam anh hùng vào một ngày cuối năm, trong lúc mọi người đang chuẩn bị hối hả đón xuân, mừng thiên niên kỷ mới. Ngôi nhà nhỏ đơn sơ, mộc mạc ẩn mình dưới những tàn cây già xơ xác, ven Quốc lộ 57 theo hướng Vĩnh Long...là nơi lưu giữ cuối cùng những kỷ vật thiêng liêng, minh chứng hùng hồn cho thời kỳ đấu tranh oanh liệt của một gia đình nghèo, nhưng giàu lòng yêu nước.
Mẹ Sảnh giờ đây không còn nữa, Mẹ đã “ra đi” năm 1981 sau một cơn bệnh nặng. Qua những gì mà người con gái út của Mẹ – dì Nguyễn Thị Bé đã kể lại tôi mới cảm nhận được ở Mẹ một tấm lòng cao cả, một sự hy sinh to lớn cho cuộc đấu tranh giành độc lập tự do của dân tộc.
Mẹ Nguyễn Thị Sảnh sinh ngày tháng năm nào không ai còn nhớ, nhưng chỉ biết là vào năm 1900 ở Măng Thít – Vĩnh Long, Mẹ có chồng về Sơn Định, Chợ Lách.
Sau cách mạng tháng 8/1945, giặc Pháp quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa, thì chồng và ba người con của Mẹ cũng lần lượt thoát ly gia đình đi kháng chiến để bảo vệ quê hương. Rồi vào một đêm tối trời của năm 1947, giặc Pháp và bọn tay sai của chúng đã bắt được chồng Mẹ – ông Nguyễn Văn Ngưu, dẫn ông tới bờ sông Chợ Lách rồi xả súng bắn chết. Hay tin ông bị giặc giết, Mẹ bủn rủn tay chân, nhờ người đi lấy hộ xác ông về. Nhưng không được, vì bọn giặc nham hiểm đã canh giữ để nhử người mình ra lấy xác. Mãi đến chiều tối hôm sau Mẹ mới đem được xác ông về. Chồng hy sinh, thân cò lặn lội, làm thuê, cuốc mướn, buôn gánh bán bưng, không có việc nặng nhọc nào mà mẹ Sảnh lại từ chối. Tảo tần cực khổ lắm Mẹ mới nuôi được đàn con khôn lớn nên người.
Ba năm sau khi chồng hy sinh, tin dữ lại dồn dập đến với Mẹ. Lúc đó Mẹ đang tị nạn ở Hưng Khánh Trung, người con thứ năm và thứ bảy của Mẹ là Nguyễn Văn Khai và Nguyễn Văn Toàn, bị một tên tay sai ác ôn khét tiếng bắt chặt đầu rồi ném xác xuống sông. Riêng liệt sĩ Nguyễn Văn Khai, thì hắn còn mổ bụng “để xem lá gan bao lớn” mà dám hô khẩu hiệu “ủng hộ Hồ Chí Minh” trước lúc chết. Đau thương chất chồng lên đôi vai gầy của Mẹ, Mẹ không còn đủ nước mắt nữa để khóc, khi biết tin người con thứ tám hy sinh năm 1952 – liệt sĩ Nguyễn Văn Nhuận.
Chúng tôi ngồi im nghe dì Mười kể mà lòng trào dâng niềm đau thương, uất nghẹn. Bốn lần tiễn chồng, con lên đường đi chiến đấu, thì cả bốn lần Mẹ khóc thầm lặng lẽ. Chồng chết, con cũng hy sinh, cuộc đời của Mẹ là những chuỗi ngày dài đau khổ. Nhìn 04 bằng Tổ quốc ghi công được treo trang trọng trên vách và bức di ảnh còn lại của Mẹ, lòng tôi cảm thấy nao nao.



