Một hoài bão lớn và con đường thực hiện ước mơ chế tạo vũ khí của người thanh niên Phạm Quang Lễ
Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất quê hương giàu truyền thống yêu nước và cách mạng ,một gia đình Nhà giáo nghèo mang đậm nét truyền thống văn hóa của gia đình Việt Nam. Vốn có tư chất thông minh, giàu nghị lực, từ nhỏ Phạm Quang Lễ đã được cha hết mực thương yêu, dạy dỗ và dìu dắt, chỉ dạy tính tự giác, lòng tự trọng và niềm đam mê để chăm lo việc học hành. Ông giáo Mùi vừa là người thầy, cũng vừa là người bạn thân thiết gieo vào lòng Phạm Quang Lễ một niềm tin để tự sửa khuyết điểm, quyết tâm vươn lên. Ông có sức ảnh hưởng rất lớn đến Phạm Quang Lễ và đây cũng là chiếc nôi nuôi dưỡng phẩm chất nhân cách, ý chí và tài năng của người thanh niên Phạm Quang Lễ.
Thấm nhuần đạo lý và lời căn dặn của cha trước lúc mất, Phạm Quang Lễ đã vượt lên mọi hoàn cảnh khó khăn để luôn đạt kết quả cao trong mọi bậc học. Ông là một học sinh giỏi, chăm ngoan, sẵn sàng giúp đỡ các bạn học kém ở trong lóp và luôn được thầy yêu, bạn mến. Những năm học ở Vĩnh Long, ông thường dẫn đầu lớp và tốt nghiệp hạng ưu ở bậc tiểu học. Sau đó Phạm Quang Lễ tiếp tục thi đỗ vào trường trung học ở Mỹ Tho (Đây là trường trung học đệ nhất cấp do người Pháp mở)với số điểm cao nhất và được cấp học bổng trong suốt những năm học tại đây (1926 – 1930).

Trường Internat Primaire (nay là Trường THPT Lưu Văn Liệt, số 105, Đường 30/4, Phường 1, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long) – nơi Phạm Quang Lễ học thời tiểu học
Năm 1930, Phạm Quang Lễ thi đỗ vào trường trung học bản xứ Petrus Ký, một trường danh tiếng ở Sài Gòn lúc bấy giờ. Vào những năm đó, nhiều hoạt động chống thực dân Pháp đã nổ ra khắp nơi, những cuộc bãi công, bãi thị do Đảng Cộng sản Đông Dương tổ chức,... Ông nhớ lại, khi còn học ở Vĩnh Long, nhiều lần ông chứng kiến cảnh người dân bí quẫn trong cuộc sống đã nhảy xuống sông tự tử từ cầu Thiềng Đức, cảnh ăn xin, trộm cắp lan tràn khắp nơi, cảnh thực dân Pháp tấn công, đàn áp, đối xử tàn tệ với người bản xứ, còn họ thì ăn nhậu xa hoa, phè phởn.... Từ các sự kiện, những hình ảnh đó, đã khơi sâu vào lòng của ông và dẫn ông đến lòng căm thù bè lũ thống trị. Ông nhận thấy nước nhà có rất nhiều chiến sĩ cách mạng giàu lòng yêu nước, nhiều người tài nhưng các phong trào cách mạng đều bị dìm trong bể máu. Từ giữa thế kỷ 19 có những cuộc nỗi dậy chống thực dân Pháp xâm lược của Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám... Có những cuộc kéo dài đến 10 năm, ba mươi năm nhưng cuối cùng cũng điều thất bại do nhiều nguyên nhân, nhưng một trong những nguyên nhân vô cùng quan trọng là vấn đề vũ khí. Ông nghĩ, muốn thắng kẻ thù thì bên cạnh những người lo toan về chính trị, phải có những người lo toan về quân sự, về khoa học, vũ khí. Từ ý nghĩ đó, đã thôi thúc và dẫn ông đến sự lựa chọn phương hướng cho cuộc đời mình là trở thành một người nghiên cứu chế tạo vũ khí. Chính vì vậy, nên khi còn ngồi trên ghế nhà trường, ông quyết tâm học thật giỏi, nhất là các môn về khoa học tự nhiên để thực hiện ước mơ đó của mình.

Trường Pétrus Ký (nay là Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, số 235, Nguyễn Văn Cừ, Phường 4, Quận Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh) – nơi Phạm Quang Lễ học từ năm 1930 - 1933
Năm 1933, ông thi đỗ hai bẳng tú tài (Tú tài Bản xứ và tú tài Tây), nhưng ông quyết định không học tiếp đại học mà quay về Mỹ Tho nộp đơn xin vào làm việc ở tòa sứ Pháp và ôm ấp một hoài bảo được sang Pháp du học. Bởi muốn nghiên cứu về vũ khí phải tìm cách qua Pháp mới có thể tiếp cận với nguồn tài liệu này. Vì ông chắc chắn rằng người Pháp không bao giờ mang tài liệu về vũ khí qua Việt Nam. Khi làm việc ở tòa sứ Pháp, công việc của ông cũng đơn điệu, không có gì phức tạp, chỉ cần học chút ít cũng làm được. Chỉ có một công việc ít nhiều hứng thú đó là thỉnh thoảng đi theo ông Sứ với vai trò phiên dịch. Mỗi lần đi như vậy là một dịp để ông trau dồi thêm tiếng Pháp, điều đó rất cần thiết cho bước đường sắp tới của ông là khi sang Pháp.
Đến năm 1935, ước mơ của Phạm Quang Lễ cũng trở thành hiện thực, ông được nhà báo Vương Quang Ngươu, một Việt kiều từ Pháp về, làm việc ở Tòa bố chính Mỹ Tho, đã giúp đỡ cho ông một xuất học bổng một năm đi học ở Pháp (Năm học 1935-1936) vì nhận thấy ông là một thanh niên có tài năng và có chí lớn. Vậy là con đường nghiên cứu chế tạo vũ khí của Phạm Quang Lễ bắt đầu từ đây.
Đến Paris, dẫu biết có bao điều hấp dẫn, cuốn hút, nhưng cũng không thể làm Phạm Quang Lễ lơ là mục đích đến đây, tất cả tâm trí của ông dồn hết cho việc học tập. Thông thường, mỗi học sinh phải học hai năm dự bị, nhưng Phạm Quang Lễ chỉ được có một năm học bỏng, vì vậy ông dồn hết tâm sức, sắp xếp thời gian rất khoa học để rút ngắn hai năm làm một và quyết tâm thi đỗ vào một trường đại học để được cấp học bổng tiếp tục học lên cao. Ông làm việc cật lực, tranh thủ mọi thời gian. Lúc đầu, hàng ngày ông giành khoảng mười bốn, mười lăm giờ cho việc học. Dần dần ông rút kinh nghiệm, sắp xếp thời gian biểu tỉ mỉ, hợp lý, xen kẽ giờ giải trí, thay đổi công việc để đầu óc đỡ căng thẳng, quan tâm đến việc bồi dưỡng sức khỏe để tránh bị ốm đau, nhất là chống lại việc cảm lạnh mùa đông. Làm việc theo phương pháp khoa học này, ông thấy hiệu quả hơn nhiều, kế hoạch học vượt 2 năm trong 1, chắc chắn sẽ có kết quả. Mùa thu năm 1936, sau chín tháng học xong khóa dự bị, ông thi đỗ vào trường Đại học Quốc gia cầu đường Paris và được cấp học bổng tiếp tục học lên. Rút kinh nghiệm về phương pháp học tập của bản thân, ông đầy tự tin bước vào năm học mới với nhiều dự định nâng cao hiệu quả của việc học, bước đầu mở được cửa đi vào con đường nghiên cứu vũ khí.

Lớp sinh viên năm thứ nhất Đại học Quốc gia Cầu đường Paris, năm 1936 – Phạm Quang Lễ hàng đầu đeo kính
Hai năm ở Paris với quyết tâm cao trong học tập, Phạm Quang Lễ đã đạt được thành quả bước đầu. Mong muốn của ông là ngoài việc học về kỹ thuật dân dụng, ông còn tìm cách học cho kỳ được kỹ thuật chế tạo vũ khí, ông tự nhủ đó là nghĩa vụ thiêng liêng của mình với Tổ quốc, nhưng để đạt được điều đó đòi hỏi phải có kiến thức về các lĩnh vực liên quan, đây là lĩnh vực bí mật và tuyệt đối cấm đối với người dân thuộc địa, chỉ cần để lộ ra ý định này là ông sẽ bị trục xuất ngay khỏi nước Pháp. Vì vậy mà ông chỉ có thể tự mò mẫm và bí mật học hỏi, tiến hành một cách hết sức kiên trì, kín đáo việc nghiên cứu, sưu tầm tài liệu về các loại vũ khí.
Ở Pháp, ngoài các thư viện công cộng dùng cho mọi người, còn có những tủ sách dành riêng cho các giáo sư, trong đó có nhiều tài liệu quý, hiếm, bí mật và ông tìm mọi cách để khai thác chúng. Lúc nào có dịp gần gũi các giáo sư hoặc những người thủ thư là ông khéo léo dẫn dắt câu chuyện, dường như tình cờ. Khi hỏi mượn sách về thuốc nổ, ông giải thích: “ Tôi là sinh viên trường Quốc gia Cầu cống. Đông dương là một xứ hiểm trở, nhiều núi non. Mở một con đường xuyên rừng đòi hỏi phải bạt đi từng mảng núi, ấy là chưa kể còn phải đục núi để xây đường hầm. Vì thế tôi rất cần có những hiểu biết về thuốc nổ!”. Khi mượn tài liệu nói về các phương pháp gia công các ống thép chịu áp lực cao, ông nói là để học cách chế tạo các đường ống cống ngầm.
Với đức tính chăm chỉ, cần mẫn, khiêm tốn, lễ độ, người sinh viên Việt Nam Phạm Quang Lễ đã lấy được cảm tình của người thủ thư và người thủ thư cũng đã chỉ cho ông những cuốn sách nói về phương pháp gia công nòng đại bác, vì nòng đại bác cũng là những ống thép chịu áp lực cao. Kể từ đó trở đi, người thủ thư cho ông mượn bất cứ cuốn sách nào mà ông yêu cầu. Không những thế người thủ thư còn cho ông mượn đem về nhà những cuốn sách mà không được phép mang ra khỏi thư viện để đọc trong ngày chủ nhật. Ông luôn giữ đúng hẹn là trả sách cho người thủ thư vào sáng sớm ngày thứ hai trước giờ thư viện mở cửa.
Mục tiêu lâu dài của Phạm Quang Lễ là thực hành chế tạo ra vũ khí. Vì vậy, ông không chỉ quan tâm đến vấn đề lý thuyết, mà phải tranh thủ tìm hiểu trong thực tế. Thời gian đầu, khi chưa có điều kiện đến xưởng máy, xí nghiệp để tìm hiểu, ông thường đến các viện bảo tàng kỹ thuật, bảo tàng vũ khí. Tại đây, ông có dịp liên hệ những điều mà ông đã âm thẩm tìm hiểu trong sách với thực tế nhìn thấy ở bảo tàng. Nhưng để nghiên cứu sâu hơn nữa về vũ khí đòi hỏi phải tìm được những đầu sách có liên quan mà những cuốn sách đó chỉ có trong các thư viện chuyên ngành của các trường đại học kỹ thuật. Muốn dễ dàng, thường xuyên đến các thư viện này mà không bị mật thám nghi ngờ, theo dõi, tốt nhất là phải có bằng kỹ sư chuyên ngành đó, và muốn đi sâu vào lĩnh vực nói trên cần phải giỏi về khoa học cơ bản, toán học, cơ học, hóa học và kỹ thuật, nên ngoài việc học ở Đại học Cầu đường, ông còn thi lấy bẳng cử nhân khoa học ở trường Đại học Xoox – bon (Sorbonne), bằng Kỹ sư tại trường Đại học Điện, bằng Kỹ sư Hàng không tại Học viện Kỹ thuật Hàng không đồng thời lấy chứng chỉ ở trường Bách khoa, trường Đại học mỏ mỏ Địa chất. Bởi có bằng cấp chuyên ngành mới có điều kiện giao tiếp, trao đổi ý kiến với các nhà kỹ thuật, giáo sư nổi tiếng để tìm tài liệu. Hơn nữa, đây cũng là chìa khóa để bước vào công tác thuật lợi và đễ dàng tìm việc làm ở những công ty kỹ thuật chuyên ngành, có lợi cho mục tiêu của ông. Ngoài ra ông còn tự học tiếng Đức để đọc các tài liệu của Đức từ nguyên bản với cách học là học qua từ điển, và ông học thuộc lòng 4.000 từ trong hai tháng nghỉ hè.
Thời gian trôi nhanh, mùa thi tốt nghiệp đã đến. Những môn ông thi đầu tiên là lấy bằng Kỹ sư ở trường Đại học Quốc gia Cầu đường Paris và đạt loại giỏi, tiếp đó là bằng Kỹ sư Điện , bằng Cử nhân toán cao cấp tại Đại học Xooc – bon. Đồng chí Phạm Quang Lễ nhận cùng lúc 3 bằng: Kỹ sư Cầu đường, kỹ sư Điện, cử nhân Toán. Sau đó thi và lấy tiếp bằng kỹ sư Hàng không, chứng chỉ ở Đại học Mỏ và Cơ khí Bách khoa.
Sau khi tốt nghiệp, để chờ cơ hội về nước bắt tay vào thực hiện hoài bảo. Ông quyết định ký hợp đồng ngắn hạn, làm việc ở công ty điện Thomson chuyên sản xuất các loại biến thế điện hoạt động theo phương thức tư nhân. Ông được giao trực tiếp theo dõi hoạt động kỹ thuật và sản xuất ở khâu chế tạo lắp ráp biến thế, ở đây ông để mắt hết tất cả và cố gắng ghi chép những gì đáng ghi. Thời gian làm việc ở ngành này kéo dài không lâu nhưng ông đã nắm bắt được nhiều điều bổ ích, tích lũy nhiều kinh nghiệm và khả năng vận dụng các hiểu biết về điện: điện từ trường, điện biến thế để thiết kế chế tạo khí tài quân sự, kỹ thuật điều khiển từ xa,...
Tiếp đến, ông được nhận vào làm ở một công ty chế tạo máy bay dân sự. Sau khi đã xem xét rất kỹ hồ sơ, kết quả học tập ở trường đại học và lời nhận xét ở công ty Thomson, ông được bố trí vào làm việc ở phòng thiết kế của công ty này, phòng thiết của công ty chế tạo máy bay là một bộ phận rất quan trọng, có quy chế nghiêm mật. Tại đây ông được quyền đọc những tài liệu kỹ thuật có trong phòng, trong những tập hồ sơ tại đây, có hàng chục tập hồ sơ nói về lĩnh vực vũ khí, khí tài trên máy bay, các loại sách chế tạo và sử dụng các loại súng pháo cao xạ, bom mìn, súng bộ binh. Lúc này, bộ nhớ khổng lồ của ông phát huy hiệu quả, ông ghi chép thận trọng vào những thời điểm thuận lợi để làm phong phú số tài liệu thu thập được. Những tài liệu này ông phải ra công nghiền ngẫm và đưa vào bộ nhớ của mình, đề phòng nếu thất lạc tài liệu vẫn xoay xở được. Những lần có dịp xuống xưởng, ông thường quan sát rất kỹ các bộ phận của máy bay, kết cấu và đặc tính của từng loại. Ông tích lũy, học hỏi được rất nhiều, rút nhiều kinh nghiệm trong thực tế chế tạo. Để tích lũy được nhiều kinh nghiệm, cứ nửa năm ông lại đổi chỗ làm việc một lần, ông đã lần lượt làm việc trong 3 công ty chế tạo máy bay của nước Pháp. Nhờ vậy mà về sau, khi chiến tranh kết thúc năm 1945, ông được chọn làm thiết kế trưởng của hãng chế tạo máy bay Nord Aviation.
Cuối năm 1939 Chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ và giữa năm 1940 nước Pháp đã rơi vào tay quân Đức. Để chuẩn bị cho cuộc chiến tranh thế giới thứ hai khởi đấu vào năm 1939, nhà nước Đức phát xít đã tổng động viên mọi nguồn nhân, tài, vật lực, tập trung phát triển các loại vũ khí mới. Nước Đức trở thành một trung tâm kỹ thuật cao của Châu Âu và thế giới. Những nhà khoa học gốc Châu Á được nhận vào làm việc không mấy khó khăn trong các nhà máy của Đức. Lợi dụng tình thế này, năm 1942 ông xin vào làm việc tại nhà máy chuyên chế tạo máy bay ở tỉnh Halle, miền trung nước Đức. Sau đó, ông được chuyển đến làm việc tại Viện nghiên cứu vũ khí, kỹ thuật hàng không của Đức. Thời gian làm việc tuy chỉ có vài tháng, nhưng cũng đã giúp cho ông nắm được một số kỹ thuật mới và học được phương pháp tổ chức rất khoa học của Đức.
Vậy là trong 11 năm ở trời tây, ông đã học tất cả các lĩnh vực có liên quan, miệt mài học tập, nghiên cứu, làm việc ở nhiều nơi tại Pháp và Đức, thu thập được hơn 30 ngàn trang tài liệu về vũ khí và thuốc nỗ, phần lớn là các tài liệu mật, trang bị đầy đủ những kiến thức, kinh nghiệm để chờ cơ hội về giúp ích cho Tổ quốc.
Năm 1946, 33 tuổi từ bỏ nơi làm việc với mức lương 5.500 France (Tương đương với 22 lượng vàng một tháng), Phạm Quang Lễ theo Bác Hồ trở về Tổ quốc tham gia công cuộc kháng chiến kiến quốc của dân tộc. Đến ngày 5 tháng 12 năm 1946, Phạm Quang Lễ vinh dự được Bác Hồ đặt cho tên mới là: “Trần Đại Nghĩa” và cái tên mà Bác Hồ đặt cho ông năm đó đã đưa ông đi vào lịch sử về ngành chế tạo vũ khí của Việt Nam./.
Xử lý tin: Phương Hà
Sưu tầm nguồn: https://vast.gov.vn/web/guest/tin-chi-tiet/-/chi-tiet/mot-hoai-bao-lon-va-con-%C4%91uong-thuc-hien-uoc-mo-che-tao-vu-khi-cua-nguoi-thanh-nien-pham-quang-le-29821-1804.html



