MỘT MÌNH BÊN KHẨU SƠN PHÁO 75MM GIỮA CHIẾN TRƯỜNG ĐIỆN BIÊN
Ngày 23/4/1954, trên đồi E1 của chiến trường Điện Biên Phủ, một khẩu sơn pháo 75mm vẫn tiếp tục nhả đạn giữa lúc trận địa bị pháo binh đối phương đánh phá dữ dội. Khẩu đội vốn có chín người, nhưng đồng đội lần lượt hy sinh và bị thương, cuối cùng chỉ còn lại một pháo thủ bên khẩu pháo nặng khoảng 500kg. Người chiến sĩ ấy chính là Phùng Văn Khầu. Không còn người nạp đạn, người chỉnh hướng hay người ngắm bắn, ông phải một mình đảm nhiệm các thao tác của cả khẩu đội để tiếp tục chi viện cho bộ binh. Đó là một trong những thời khắc đặc biệt nhất trong cuộc đời chiến đấu của người con dân tộc Nùng quê xã Đức Hồng, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Những tư liệu hiện còn có sự khác nhau về năm sinh của ông: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ghi năm 1929, trong khi một số tư liệu khác ghi năm 1930. Nhưng các nguồn đều cho thấy Phùng Văn Khầu đến với cách mạng từ khi còn rất trẻ. Năm 1946, ông tham gia hoạt động tại địa phương, lúc làm liên lạc, lúc làm nhiệm vụ an ninh. Tháng 12/1949, ông xung phong nhập ngũ và được biên chế vào lực lượng pháo binh, Trung đoàn 675. Những ngày đầu đứng trước khẩu sơn pháo là một thử thách không nhỏ đối với người chiến sĩ khi ấy chưa biết chữ. Vũ khí lớn, kỹ thuật sử dụng phức tạp, trong khi những kiến thức cần thiết đều mới mẻ. Ông kiên trì học hỏi đồng đội, từng bước tìm cách làm quen và nắm được kỹ thuật của khẩu pháo. Từ tháng 12/1949 đến năm 1954, Phùng Văn Khầu tham gia bảy chiến dịch lớn cùng hàng chục trận đánh, cùng đồng đội kéo pháo, chuyển đạn, xây dựng trận địa và trực tiếp chiến đấu. Những năm tháng ấy đã rèn luyện người chiến sĩ trẻ trở thành một pháo thủ dày dạn trước khi ông bước vào trận đánh lớn nhất đó là Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Tại Điện Biên Phủ, Phùng Văn Khầu chỉ huy một khẩu đội sơn pháo 75mm thuộc Đại đội Sơn pháo 755, Trung đoàn 675, Đại đoàn 351. Đơn vị được giao nhiệm vụ dùng hỏa lực khống chế các vị trí của đối phương và chi viện cho bộ binh chiến đấu. Trong một trận đánh, khẩu đội do ông chỉ huy đã sử dụng 22 phát đạn phá hủy các công sự, ụ súng, tạo điều kiện để bộ binh bao vây và tiến công trận địa. Sau đó, đơn vị chuyển sang phòng ngự tại đồi E. Suốt 35 ngày đêm, trận địa liên tục chịu hỏa lực pháo binh; quân số khẩu đội ngày một hao hụt, có lúc chỉ còn hai người. Phùng Văn Khầu cũng nhiều lần bị sức ép và bị thương nhưng vẫn bám trận địa, dùng pháo chi viện cho bộ binh tại các điểm cao. Có thời điểm khẩu đội không còn đủ người, ông vừa ngắm bắn, vừa quan sát mục tiêu, vừa điều chỉnh điểm nổ. Đỉnh điểm là trận chiến ngày 23/4/1954 tại đồi E1. Đối phương mở cuộc phản kích lớn nhằm vào lực lượng ta đang chia cắt sân bay Mường Thanh và tập trung hỏa lực đánh phá trận địa pháo. Cả đại đội chịu thương vong nặng, chỉ còn khẩu đội của Phùng Văn Khầu tiếp tục chiến đấu; rồi chín người trong khẩu đội cũng lần lượt hy sinh hoặc bị thương. Cuối cùng, bên khẩu sơn pháo 75mm chỉ còn một mình ông. Người pháo thủ phải làm thay công việc của cả khẩu đội, từ nạp đạn, chỉnh hướng đến ngắm và bắn. Có lúc sức ép của pháo địch khiến ông ngất đi, nhưng khi tỉnh lại ông tiếp tục chiến đấu. Theo tư liệu của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, trong trận đánh ấy Phùng Văn Khầu đã dùng khẩu sơn pháo triệt hạ bốn khẩu pháo 105mm, hai khẩu đại liên, một kho đạn của đối phương, góp phần chi viện cho bộ binh giữ vững và phát triển trận địa. Một trong những kỹ thuật đặc biệt gắn với tên tuổi ông là cách ngắm bắn trực tiếp qua nòng pháo. Giữa chiến trường, nơi từng viên đạn đều quý và mục tiêu phải được đánh trúng chính xác, khả năng làm chủ khẩu pháo của người chiến sĩ từng bước vào quân ngũ khi chưa biết chữ đã trở thành một phần trong câu chuyện về pháo binh tại Điện Biên Phủ. Khẩu sơn pháo 75mm gắn với khẩu đội của Phùng Văn Khầu sau này được lưu giữ như một hiện vật lịch sử, nhắc lại những ngày mà người và pháo cùng trụ lại giữa trận địa dưới những đợt đánh phá liên tiếp.
Sau ngày Điện Biên Phủ toàn thắng, Phùng Văn Khầu cùng một số chiến sĩ tiêu biểu của chiến dịch được về chiến khu Việt Bắc báo công với Chủ tịch Hồ Chí Minh và được Người tặng Huy hiệu Chiến sĩ Điện Biên. Ngày 31/8/1955, ông được tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Nhưng Điện Biên Phủ không phải điểm kết thúc cuộc đời quân ngũ của người pháo thủ Cao Bằng. Trong những năm tiếp theo, ông tiếp tục phục vụ trong quân đội, trải qua hai cuộc kháng chiến và đảm nhiệm nhiều cương vị như cán bộ thuộc Bộ Tổng Tham mưu Quân khu Việt Bắc, cán bộ cơ quan chính trị Bộ Tư lệnh Pháo binh, Phó Chính ủy Trung đoàn, Phó Chủ nhiệm Chính trị Trường Sĩ quan Pháo binh và Phó Chính ủy Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Cao Bằng. Ông được phong quân hàm Đại tá và đến năm 1986 hoàn thành nhiệm vụ trong quân ngũ, trở về cuộc sống đời thường. Trong suốt quá trình công tác, Phùng Văn Khầu được trao tặng nhiều phần thưởng, trong đó có Huân chương Quân công hạng Nhì, hạng Ba; các Huân chương Chiến công; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang; Huy chương Quân kỳ Quyết thắng và Huy hiệu Chiến sĩ Điện Biên. Ngày 25 tháng 8 năm 2021, Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phùng Văn Khầu từ trần. Chính những ký ức cụ thể như thế đã đưa câu chuyện của một người lính vượt qua hơn bảy thập niên, để Phùng Văn Khầu và khẩu sơn pháo 75mm của Điện Biên vẫn còn được nhắc nhớ như một trang sử sống của thế hệ đã trực tiếp làm nên chiến thắng năm 1954


