Bài viết

Một mình một súng hạ máy bay Mỹ

Đồng đội vẫn nhớ đến cựu chiến binh Nguyễn Thanh Kiếm (thôn An Định, xã Cư An, huyện Đăk Pơ, tỉnh Gia Lai) bởi sự mưu trí, gan dạ và chiến công một mình một súng bắn hạ máy bay trực thăng Mỹ. Còn lớp trẻ sinh ra trong hòa bình, họ ngưỡng mộ ông bởi lối sống liêm khiết, giản dị, gần gũi, có tư duy làm kinh tế giỏi.

Hưng Yên29/12/2025Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đang làm cỏ mía ở sau vườn, thấy nhà có khách, ông Kiếm vội vã nghỉ tay. Nhìn người đàn ông cao to, có hàng ria con kiến, khỏe mạnh, hoạt bát, tinh anh đang khoác trên mình bộ quân phục cũ màu cỏ úa, ít ai nghĩ năm nay ông đã bước sang tuổi 72. Nhắc chuyện bắn rơi máy bay Mỹ, ông Kiếm nhớ lại: “Đầu năm 1970, đơn vị tôi được cấp trên giao nhiệm vụ lùi về hậu cứ, tích cực khai hoang, mở rộng diện tích tăng gia sản xuất, bảo đảm cung cấp lương thực, thực phẩm cho các lực lượng khác đang hoạt động, chiến đấu trên địa bàn. Ngày ngày, chúng tôi vừa chống địch vừa tích cực cuốc đất, làm cỏ rồi thay nhau vào nhà dân xin phân, xin giống cây, rau, hoa màu về trồng. Cả huyện đội lúc đó chỉ có khoảng 30 người, nhưng quân số thường xuyên phân tán do yêu cầu nhiệm vụ. Để địch không phát hiện ra, mọi hoạt động phải tuyệt đối giữ bí mật, cây trồng đến đâu ngụy trang ngay đến đó. Kỷ luật chiến trường thời đó rất nghiêm, sống giữa “kho thóc” nhưng chúng tôi chẳng bao giờ dám tơ hào, cuộc sống luôn tiết kiệm và đạm bạc.

Trước Tết Tân Hợi năm 1971, cấp trên thông báo, do trong hàng ngũ có kẻ chiêu hồi, yêu cầu Huyện đội 8 khẩn trương sơ tán về khu vực bí mật để bảo đảm an toàn. Không chút đắn đo, tôi và hai chiến sĩ trẻ trong tiểu đội xung phong ở lại khu vực tăng gia sản xuất trông coi lán trại. Nơi ở của chúng tôi là một căn hầm chữ A nằm dưới gốc cây cổ thụ rất to. Tết giữa chiến trường nên chẳng khác gì ngày thường. Sáng sớm Mồng Một, đang nằm trong hầm, chúng tôi nghe tiếng trực thăng từ hướng sân bay Cây Me (nay là nơi đóng quân của Sư đoàn Bộ binh 2, Quân khu 5) vọng lại phành phạch. Cứ nghĩ chúng chỉ lượn vòng như mọi ngày nên anh em chẳng mấy bận tâm, thế nhưng, âm thanh mỗi lúc càng rõ dần và gần hơn. Biết có chuyện chẳng lành, tôi ôm khẩu AK bật dậy khỏi võng, lao ra phía cửa hầm. Lúc này, chiếc trực thăng UH-1A đang bay treo cách miệng hầm khoảng vài chục mét, sức gió khủng khiếp mà nó tạo ra khiến cây cối ngả nghiêng, bụi bay mù mịt.

Thấy chiếc trực thăng hạ dần độ cao, phán đoán căn hầm đã bị lộ, tôi vội quay vào trong khoát tay báo hiệu cho hai đồng đội biết. Vừa ra lại cửa hầm, tôi bỗng khựng lại khi phát hiện trong làn khói bụi có một tên lính Mỹ tay lăm lăm khẩu M60 đang vịn thang dây chuẩn bị tiếp đất. Giữa thời khắc sinh tử, tôi giương súng quạt gần hết một băng đạn về phía chiếc trực thăng, với suy nghĩ đơn giản “nếu mình không bắn nó thì nó sẽ bắn mình”. Như con thú bị thương, chiếc UH-1A cố tăng dần độ cao, bay về phía dòng suối 407 (nay thuộc địa phận xã Ya Hội, huyện Đăk Pơ) thì rơi xuống và bốc cháy như một ngọn đuốc khổng lồ.

Tôi và các chiến sĩ định ôm súng lao lên thu chiến lợi phẩm và bắt tù hàng binh nhưng bị địch từ trong căn cứ liên tục giội pháo ngăn chặn, đồng thời điều một tốp trực thăng khác tới khu vực chiếc vừa bị bắn rơi thu dọn toàn bộ hiện trường. Nghe tiếng pháo dồn dập, Huyện đội 8 từ phía sau cũng khẩn trương cơ động đến tăng viện cho các chiến sĩ. Suốt mấy tiếng đồng hồ, trực thăng địch liên tục cất cánh, bắn rốc-két vào khu vực nghi ngờ có lực lượng của ta trú quân, song chúng không dám mạo hiểm bay thấp hoặc đổ quân nữa. Gần trưa, địch rút quân về căn cứ, tiếng pháo tắt dần. Để bảo toàn lực lượng, ta cũng rút hết về căn cứ.

Tuy không có thông tin chính xác về số lính Mỹ thương vong, nhưng theo các nguồn tin thu được sau trận đánh, chiếc trực thăng đó thuộc sư đoàn không vận số 1 của Mỹ, đóng ở sân bay Cây Me, được cử đi do thám, tìm kiếm khu căn cứ hoạt động của Quân Giải phóng. Ăn tết xong, một lần đi qua khu vực chiếc trực thăng rơi, tôi phát hiện địch bỏ sót một số chi tiết, liền đem về một mảnh cánh để anh em trong đơn vị gò làm mặt bàn ăn dã chiến”.

Hòa bình lập lại, Nguyễn Thanh Kiếm xin xuất ngũ, lấy vợ, sinh con và chọn mảnh đất Gia Lai để lập nghiệp. Nhiều năm liền là bí thư chi bộ thôn, chủ tịch hội cựu chiến binh xã, trên cương vị nào ông cũng phát huy tốt phẩm chất, bản lĩnh của người lính trận năm xưa, luôn nhiệt tình, xông xáo, sẵn sàng nhận phần khó về mình. Con cái đều đã trưởng thành và có cuộc sống riêng ổn định, nhưng sau khi nghỉ hưu, ông cùng vợ vẫn tần tảo với hơn 4ha đất đồi, khi trồng mía, lúc trồng màu và bán tạp hóa, mỗi năm thu về hàng trăm triệu đồng, là điển hình trong phát triển kinh tế tại địa phương.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn