Bài viết

MỘT MÙA XUÂN NHỚ MÃI

Cuối năm 1967, lực lượng cách mạng tại Châu Đốc bí mật tập trung chuẩn bị cho Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Đêm giao thừa, các đơn vị của tỉnh, thị xã Châu Đốc và huyện Châu Phú đồng loạt tiến công vào nhiều mục tiêu trọng yếu trong thị xã, khiến quân địch hoàn toàn bất ngờ. Quân giải phóng nhanh chóng chiếm được nhiều đồn bốt, cơ quan quân sự và tiêu diệt, làm bị thương nhiều binh lính địch. Trong hai ngày chiến đấu ác liệt, mặc dù địch được tăng viện bằng bộ binh, xe bọc thép,

An Giang16/06/2026VĨNH AN (xã đoàn Châu Phú)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trên địa bàn thị xã Châu Đốc, suốt năm 1967, hoạt động quân sự chủ yếu của ta là xây dựng cơ sở, xây dựng lực lượng.

Bọn chỉ huy tiểu khu Châu Đốc được thế thúc quân lính bên dưới cố sống, cố chết đánh bung ra khắp nơi, gây vô vàn tội ác với nhân dân...

Trong một bản báo cáo lên cấp trên, tên Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Châu Đốc lếu láo tâng công: "Hiện Tiểu khu chúng tôi đã kiểm soát gần 100% lãnh thổ. Sau những cuộc hành quân càn quét của ta, Việt cộng đã bị thiệt hại nặng nề, hiện không còn sức kháng cự...

Để minh họa thêm bản báo cáo láo, ngay trước bàn làm việc, hắn treo hai bản đồ quân sự cỡ lớn: bản "tình hình bạn" đánh dấu các phiên hiệu quân ngụy xanh lét khắp tỉnh, còn bản "tình hình địch" chỉ có một vài chấm "tình nghi Việt cộng" rải rác như là không đáng kể? Bọn Tiểu khu Châu Đốc hí hửng với chiến công giả tạo đó, cho mãi đến tết năm 1968...

Thật ra trước tết năm 1968, ngay những cán bộ chỉ huy Thị đội như chúng tôi vẫn chưa biết cụ thể tình hình chiến sự sẽ ra sao?

Trước ngày tết khoảng một tháng, bỗng nhiên đơn vị vũ trang của Tỉnh, của thị xã Châu Đốc và huyện Châu Phú được lệnh rút về tập trung tại một vùng căn cứ cách Tây bắc nội ô thị xã Châu Đốc khoảng 5 cây số đường chim bay. Đây là một căn cứ kháng chiến lớn nằm giữa cánh đồng bao la, kênh rạch chằng chịt, cá tôm, gạo lúa rất dồi dào, từ thời kháng Pháp đến giờ địch chưa hề dám bén mảng tới đây.

Tập trung về đây, việc làm đầu tiên của các đơn vị là khẩn trương tổ chức huấn luyện chiến đấu. Đặc biệt trong đợt huấn luyện này, các vũ khí cũ như Các-bin, Ga-răng, Tom-son, chiến lợi phẩm ta sử dụng bấy lâu nay được thay thế bằng các vũ khí mới: AK, B40, B41, DKZ... Hầu hết còn xanh ngời nước thép, báng đỏ au như mới ra lò. Được cấp vũ khí mới, ai cũng khoái, nhất là các chiến sĩ trẻ, có cậu ôm súng nhảy tưng tưng như trẻ được quà. Không khí luyện tập càng sôi nổi, phấn khởi.

Trong thời gian này, các tổ quân báo và trinh sát của tỉnh đêm đêm bí mật luồn về hướng nội ô thị xã. Thỉnh thoảng chúng tôi lại bắt gặp các đồng chí hoạt động nội thành xuất hiện ở Bộ chỉ huy...

Chuyện gì sẽ xảy ra? Trên vẫn chưa tiết lộ điều gì, tuy nhiên đối với những cán bộ chỉ huy như chúng tôi vốn nhạy cảm với chiến trường cũng đoán được phần nào ý đồ quân sự của trên. Có thể ta sẽ đánh lớn vô thành phố, nhưng đánh lúc nào thì không ai dám nói chắc.

Mãi đến tối 28 tết năm đó, khi Bộ chỉ huy quân sự thống nhất của tỉnh mời chúng tôi đến họp, đứng trước sa bàn chiến đấu, chúng tôi mới hiểu ra. Bấy giờ đồng chí Nguyễn Văn Náo, Khu ủy viên Khu 9, Bí thư Tỉnh ủy, mới nói rõ ý đồ chiến lược của Trung ương. Ngay trong những ngày đầu xuân này chúng ta sẽ tổng công kích vào sào huyệt của bọn Mỹ Ngụy bằng một đòn phối hợp chiến dịch toàn miền. Riêng lực lượng tỉnh Long Châu Hà, thị xã Châu Đốc và huyện Châu Phú chịu trách nhiệm đánh vào tỉnh lỵ Châu Đốc và các vùng lân cận, nhằm tiêu hao phần lớn sinh lực địch, tăng thêm thế và lực của ta, tạo điều kiện cho đồng bào nổi dậy phá vỡ các ấp chiến lược, giải phóng thêm những vùng xung yếu.

Đêm đó sau khi dự họp ở Bộ chỉ huy, chúng tôi về đến doanh trại thì đã khuya, nhưng không ai tài nào ngủ được, trong lòng mỗi người cứ rạo rực bồn chồn. Như vậy từ cả tháng nay mọi việc đã chuẩn bị đâu vào đó rồi, chỉ chờ đến ngày N là nhất tề xông lên giáng đòn sấm sét lên đầu giặc.

Sau khi thảo luận phương án chiến đấu với các đồng chí chỉ huy Thị đội, tôi đi một vòng qua các trại. Đêm đã nghiêng về sáng, bầu trời trong veo lấp lánh những vì sao, ngọn gió đầu xuân mát lạnh mơn man da thịt. Cánh đồng B2 vẫn còn chìm trong yên lặng. Các chiến sĩ vẫn đang ngon giấc trong những túp lều nylon căng tạm dưới các tán cây. Chợt có tiếng mớ ú ớ của đồng chí nào "súng đã quá! đã quá !" ... làm đôi cò quắm đậu trên ngọn gáo kế bên giật mình đập cánh bay lên. Tôi mỉm cười dõi mắt theo đôi cò từ từ mất hút về hướng có ánh điện mờ nhạt. Xa kia là quê hương Châu Đốc mến yêu. Ngày mai chúng tôi sẽ về đó. Tôi tưởng tượng đến những nụ cười rạng rỡ, những giọt nước mắt sướng vui của đồng bào, của những người thân khi gặp nhau. Ôi! Đã hai mươi năm rồi xa cách, những ký ức về một thị xã tuổi thơ vẫn còn nằm sâu trong trí nhớ tôi. "Châu Đốc ơi! Ngày mai chúng tôi sẽ về đây..."

Chúng tôi rời vị trí xuất phát khoảng 18 giờ rười, rầm rập tiến về thị xã. Nhờ các cơ sở cách mạng bố trí sẵn xuồng ghe, chúng tôi vượt qua kinh Vĩnh Tế rất nhanh. Đồng bào đang chuẩn bị đón giao thừa, gặp bộ đội về mừng rỡ túa ra đường thăm hỏi ríu rít. Đang hành quân, chúng tôi không thể dừng lại, nhiều bà con chạy theo vừa mắng yêu vừa máng bánh tét, bánh ít lên vai lên cổ chúng tôi, có bà con gấp quá bưng cả đĩa ngũ quả chạy theo nhét vào ba lô, túi áo, túi quần của các chiến sĩ ...

Qua khỏi Bà Bài, đoàn quân vòng qua lưng núi Sam, đâm qua cánh đồng Vĩnh Đông, nhắm ánh điện thị xã ào ạt tiến tới. Giữa đường, chúng tôi tình cờ giao hội một cánh quân giải phóng có cả dân công phía sau từ Thới Sơn, Tịnh Biên kéo ra. Đang hành tiến đâu nói được gì, chỉ vẫy tay chào nhau hẹn sáng gặp lại tại thị xã...

Theo phương án chiến đấu đã được quán triệt trước, trong đêm 31 này lực lượng ta sẽ chia thành 3 mũi đánh úp vào thị xã. Mũi thứ nhất do bộ đội của tỉnh đánh vô từ hướng Nam, có nhiệm vụ giải quyết các cứ điểm lớn của địch, khống chế cửa ngõ thị xã. Mũi thứ hai do Đội biệt động của thị xã đánh vô từ hướng đường Núi, đồng thời ngăn chặn địch từ hướng Chi Lăng kéo ra chi viện. Mũi thứ ba do bộ đội địa phương quân huyện Châu Phú đánh vô từ hướng Bắc, chiếm lĩnh khu vực tiệm rượu, chùa Cao Đài, ngã ba Nhà Thờ.

Về phần lực lượng địch, ta nắm được chúng có khoảng hai ngàn quân, đồng rái rác ở 43 cứ điểm từ cấp tiểu đội đến đại đội. Các cứ điểm này nằm theo thế liên hoàn quanh nội ô, trong tâm yếm trợ của các loại pháo đặt tại Núi Sam, sân bay và An Phú. Ngoài lực lượng chiếm giữ địa bàn thị xã, bọn Tiểu khu Châu Đốc còn có khả năng được máy bay và quân nơi khác kéo đến chi viện, nhất là quân của các tiểu đoàn Bảo an đóng ở Chi Lăng, Ba Xoài, núi Đất...

Khi gần đến giờ G, các cánh quân của ta đã bí mật áp sát các mục tiêu, vậy mà bọn địch từ ngoài đến trong vẫn chưa hay biết gì. Chẳng là chúng đã nói: "Việt cộng đã bị thiệt hại nặng nề, hiện không còn sức kháng cự" thì lấy gì mà tấn công. Đêm khuya, nằm sát rào đồn giặc, chúng tôi nghe rõ mồn một giọng lè nhè của mấy thằng lính say rượu, tiếng cười lả lơi của bọn vợ lính, tiếng chửi rủa cãi cọ của những thằng thua bài...

Đúng 2 giờ khuya... khi tiếng nổ bộc phá mở cửa của đặc công tỉnh nổ "ầm" vào thành Gạc thì các cánh quân của ta đồng loạt nổ súng xung phong. Đại đội biệt động chúng tôi nhanh chóng chia làm 2 mũi. Một ấp sất dãy nhà sàn bên kia đường đánh thẳng vô trạm Control, một vượt lên trước cắt ngang đường án ngữ bọn địch từ núi Sam ra. Mũi thứ nhất do tôi trực tiếp chỉ huy. Ngay loạt đạn đầu chúng tôi đã chiếm được lô cốt bên kia đường, hai tên lính ngụy bỏ xác tại chỗ. Sau mấy giây hoàn hồn bọn địch bên kia Control bắt đầu phản công quyết liệt, từ các lỗ châu mai đạn trung liên của chúng bắn ra như mưa, mũi tiến đột nhiên bị khựng lại. Tôi hét bên tai đồng chí Đội trưởng Thu: "Xách B40 theo tao!". Hai chúng tôi vượt lên đường chạy nép vào lề, khi cách Control chừng 10 thước, tôi bắn rốc một băng AK. Thu liền bồi thêm một trái B40, một quầng lửa màu da cam trùm lên Control, một mảng tường lớn vỡ tung, mấy tấm tôn văng lổn rổn, bọn địch bên trong câm họng. Chúng tôi nhanh chóng thay đạn rồi xông vào. Các chiến sĩ khác cũng đồng loạt ào tới. Bên trong trạm Control xác bọn địch nằm ngổn ngang, rượu thịt, bánh trái vung vãi khắp nơi. Bọn còn lại đã nhanh chân tháo chạy bằng ngã sau.

Bên đồn Quân cảnh gần đấy, bọn bên trong đồn từ nãy giờ hốt hoảng nổ súng loạn xạ. Chúng muốn tạo một hàng rào lửa để ta không tiếp cận được. Thu đứng nép một bên vách tường nhìn qua, đôi chân mày anh cau lại. Khi đại liên của chúng vừa chuyển làn, anh bật nhanh ra đường, giương cao khẩu B40, lại một ngọn lửa màu da cam chụp lên đồn, bọn địch hoảng hồn liệng súng chạy không còn một tên.

Chiếm xong đồn Quân cảnh, chợt đại liên địch từ bên kia bắn cấp tập qua từng chập, sau mỗi chập chúng bồi thêm một quả M79, Không ai phát hiện được vị trí khẩu đại liên địch, tức mình tôi leo lên lầu quan sát. Đây rồi? Tôi chỉ đồng chí Dẻo, chiến sĩ giữ B41, vị trí súng địch. Một lúc sau, cánh cửa sổ bên kia lầu Ty Thanh niên rụt rè hé ra. Chờ cho khẩu đại liên địch ló nòng, Dẻo bóp cò. Sau một tiếng nổ đinh tai, khung cửa sổ trên lầu văng xuống đất, khẩu đại liên địch câm họng. Sức ép phục hậu của B41 bắn trong phòng làm Dẻo và tôi đau nhói cả ngực, liền sau đó Dẻo chạy xuống lầu, lao nhanh qua đường liệng liên tiếp hai quả lựu đạn, khẩu 79 cũng câm họng luộn.

Diệt xong các ổ đề kháng của địch, tôi cho Đội Biệt động triển khai rộng ra hai cánh đánh dọc lên đường Phủ Cui, vòng qua chốt giữ cầu sắt An Biên. Cánh kia tổ chức thọc sâu vô trung tâm đánh chiếm khách sạn Mỹ Lộc giành lấy điểm cao. Từ lầu rạp hát Tần Việt chúng tôi đặt đại liên và ĐKZ bắn khống chế bọn U-Som Mỹ và bọn An ninh quân đội Ngụy phía trước.

Trong khi đó, mũi thứ hai của Đội Biệt động Châu Đốc án ngữ trong đường núi, gồm các đồng chí Hiếu, Hòa, Dũng... đã tích cực nổ súng chặn đánh bọn dịch từ các nơi tháo chạy về. Ta bắt sống được nhiều tên, thu trên 10 khẩu súng.

Bây giờ các cánh quân ta đã chiếm lĩnh hầu hết các mục tiêu chính trong nội ô. Sau 10 phút nổ súng, tiểu đoàn của tỉnh đã chiếm được thành Gạc, tiêu diệt đại bộ phận địch bên trong. Sau đó tiểu đoàn triển khai vòng ra bờ sông. Tại đây ta đã đánh chìm một tàu chiến địch, những chiếc khác hoảng hốt chạy dạt qua bên kia sông. Tiểu đoàn nhanh chóng chiếm lĩnh khu bệnh viện và một số điểm cao khác, từ đó đặt súng lớn bắn khống chế nhà tên Tỉnh trưởng và trụ sở bọn chỉ huy Tiểu khu Châu Đốc.

Ở hướng Tây bắc thị xã, lực lượng huyện Châu Phú do các đồng chí Bảy Cường, Lê Văn Công và Mai Trung Tín chỉ huy cũng dứt điểm tốt các mục tiêu. Bọn bảo an, dân vệ và cảnh sát bị ta đánh bất ngờ, ùn ùn kéo chạy về hướng chợ. Đại đội tổ chức truy kích, diệt được một số tên, thu được nhiều chiến lợi phẩm.

Cứ thế, suốt đêm đó không nơi nào trong thị xã địch đám tổ chức phản công. Qua hệ thống điện đài ta bắt được bức điện "thượng khẩn" của bọn chỉ huy Tiểu khu Châu Đốc gởi về bọn chỉ huy Vùng 4 đề nghị cho quân chủ lực lên giải tỏa (sau này bắt được tài liệu của địch, chúng tôi được biết ngay trong đêm ta nổ súng tiến công bọn địch có 65 tên chết, 13 bị thương, 11 cao ốc bị phá hủy...)

Rạng sáng hôm sau, khi tiếng súng tạm ngưng, đồng bào khu vực chúng tôi phụ trách mới dám mở cửa ra. Có người lần đầu tiên tiếp xúc với chiến sĩ quân Giải phóng thái độ còn rụt rè, thậm chí còn tỏ ra sợ sệt, nhưng đại đa số bà con rất hồ hởi phấn khởi, kẻ mời vào nhà uống nước, người bưng cơm, bưng bánh, dưa hấu, ân cần trao cho từng chiến sĩ. Nhiều chị phụ nữ tích cực giúp các đồng chí y tá chăm sóc thương binh.

Đến 10 giờ, chúng tôi nhận được điện của Bộ • chỉ huy thống nhất cho biết địch từ một số nơi, đang trên đường kéo vô thị xã, chuẩn bị đánh phản kích. Sau khi hội ý chớp nhoáng với Ban chỉ huy Thị đội, chúng tôi cử một tiểu đội, vô cầu số 2. Một lúc sau, thì tiếng súng nổ rộ về hướng ấy. Súng lại nổ rộ về hướng địa bàn bộ đội tỉnh và bộ đội huyện Châu Phú. Như vậy, sau đêm bị ta đánh thiệt hại nặng, sáng nay địch tổ chức phản kích từ 2 trục lộ chính, bằng chiến thuật từ trong đánh ra và từ ngoài đánh vô. Qua máy bộ đàm liên hệ với đơn vị bạn, chúng tôi được biết, từ sáng sớm địch dùng trực thăng đổ xuống sân bay ở ngoại ô thi xa 1 tieu doan thuoc su doan 21 chi luc nguy. Sau khi chấn chỉnh đội hình, chúng liền kéo lên định đánh thẳng vô trung tâm thị xã, còn 2 đại đội khác từ đuôi kinh Lò Heo đánh vòng lên hòng tạo thế gọng kềm đánh bật ta ra đồng. Tiểu đoàn chủ lực của chúng khi đánh lên cầu Lò Heo, thì gặp một bộ phận đặc công tỉnh chặn đầu lại, mặc dầu quân số chúng đông gấp nhiều lần, lại được hóa lực pháo binh yểm trợ tối đa, nhưng bọn chúng vân không vượt qua nổi đầu cầu. Còn 2 đại đội kia vượt qua ngã bá Nhà thờ thì gặp một cánh quân thuộc bộ đội huyện Châu Phú, do đồng chí Ba Tuấn chỉ huy đã dũng cảm đánh bật nhiều đợt xung phong của chúng. Chính tiểu đội này trong đêm rồi, sau khi rời điểm tập kết, đã thọc sâu vô đây nổ súng khống chế đồn nhà thờ và trụ sở bọn cố vấn Mỹ, trụ lại ngăn chặn địch kéo lên chi viện, tạo điều kiện cho các đơn vị vũ trang của tỉnh rảnh tay đánh chiếm các mục tiêu trong nội ô.

Vấp phải chốt thép của ta, tiểu đoàn chủ lực ngụy chẳng những không chi viện được gì bọn tiểu khu bên trong mà còn bị ta đánh thiệt hại khá nặng. Sau mỗi đợt xung phong, chúng để lại một vài xác trên đường nhựa. Cứ thế chúng bị ta cầm chân cho mãi đến chiều tối hôm đó.

Phối hợp với bên ngoài đánh vô, suốt ngày mồng một bọn địch ở những điểm còn lại trong thị xã nổ súng rộ lên nhưng không nơi nào chúng dám xuất kích. Đến trưa, chúng lại điều tới ba trực thăng cá lẹp và một chiếc Đa-cô-ta, quần đảo bắn phá yểm trợ bọn dưới đất. Mở máy bộ đàm bắt được tần số địch, chúng tôi nghe tụi nó hò hét thúc lính và xỉ vả nhau.

Riêng chốt ở cầu số 2, mãi đến xế chiều chúng tôi vẫn chưa liên lạc được, tuy nhiên tiếng súng vẫn còn rền vang từng chập về hướng đó. Ở chiến trường, đối với những cán bộ chỉ huy nhiều kinh nghiệm, nghe tiếng súng nổ có thể phán đoán được phần nào kết quả trận đánh ở phía trước. Chúng tôi hiểu các đồng chí chốt cầu số 2 đang gặp khó khăn. Ba chiếc cá lẹp đang bâu về hướng đó.... Đồng chí Thu bất ngờ xuất hiện trước cửa hầm tôi, mình anh ướt đẫm máu và mồ hôi, anh nói trong hơi thở hổn hển:

- Báo cáo anh Út, tiểu đội chúng tôi đến giờ vẫn giữ được chốt, tranh thủ lúc địch lùi lại, tôi chạy về đây cho anh biết, bọn địch từ hướng Chi Lăng kéo ra đông lắm, có ít nhất 1 tiểu đoàn. Khi chúng tôi chạy vô chiếm lĩnh đầu cầu thì tụi nó cũng vừa tràn tới. Tiểu đội liền nổ súng đánh bật tụi nó ra, tụi nó chết nhiều lắm. Từ trưa đến giờ chúng tôi đã bẻ gãy trên mười đợt xung phong của tụi nó, nhưng hiện nay chốt đang gặp khó khăn vì bị thương vong gần phân nửa, cơ số đạn đã gần hết, anh em chưa ai ăn uống gì, địa hình phòng ngự quá trống trải ...

Tôi hỏi Thu thêm một số tình hình, rồi tức tốc phân công thêm một tiểu đội kéo vô chi viện. Nhiều đồng chí tình nguyện đi. Đang lúc mọi người chuẩn bị thì Triều, một chiến sĩ trẻ nhất Thị đội, đến bên tôi rụt rè nói:

- Chú Út à! Chú... cho cháu đi đánh với!

Tôi vỗ vai Triều cười:

- Mày bé như hột tiêu mà đánh đấm gì?

Triều giận dỗi:

- Chú hổng tin cháu à! Để chú coi, cháu bắn còn ngon hơn các anh.

Thấy tôi làm thinh, Triều quay sang Thu cầu cứu:

- Anh Thu cho em đi với nha?

- Ừ, đi thì đi - Thu quay sang tôi nói tiếp: - Kệ! Cho nó đi, cũng thêm được một tay súng.

Triều là em ruột của Thu, nó tham gia cách mạng lúc mới hơn mười tuổi đầu. Mấy năm qua chức vụ chính của nó là... nấu nước pha trà. Đây là lần đầu tiên nó được ra trận. Làm ra vẻ người lớn, nó để mình trần trục, đầu quấn chiếc khăn rằn quá khổ, khẩu AK mang trề tới gối. Nhìn Triều mang súng chạy lúp xúp theo tiểu đội tôi thấy thương thằng bé quá!

Hai chiếc cá lẹp lại trờ tới, chúng bắn đại liên ổ ổ như bò rống. Tôi cho điều khẩu 12ly7 lên đồn quân cảnh bán chúng dạt ra. Đồng chí Giang, cậu bé bảo vệ tôi cũng hãng máu xách AK chạy ra đường vừa bắn vừa chạy đuổi theo chúng.

Hai chiếc trực thăng từ hướng sân bay vòng lên, từ trên cao nó phóng rốc-két ào ạt xuống dãy nhà lá ở cuối đường xe lửa, lửa bất cháy, khói đen ùn lên, như cây nấm khổng lồ.

Bọn bên ngoài lại tổ chức đánh vùi vô, Tiếng súng từ các hướng nổ vang dội. Địch từ thành PC bắt đầu xuất kích. Nhưng khi chúng đến cầu An Biên, bị một chốt của ta đẩy lùi lại. Hai tiếng đồng hồ trôi qua, nhưng tiếng súng vẫn còn vang dội khắp nơi. Pháo địch từ An Phú, núi Sam, sân bay bắn càng lúc càng dầy. Địch đang cố sống, cố chết đánh mở cửa cứu nguy cho bọn bên trong. Có tin xe thiết giáp địch từ Chi Lăng kéo ra. Đồng chí Thị đội phó Thu đã bị thương, chốt cầu số 2 không còn ai chỉ huy.

Sau khi hội ý với Ban chỉ huy Thị đội, chúng tôi cho chốt rút về phía sau. Trong đợt đánh phản kích này, riêng lực lượng Thị đội hy sinh ba đồng chí, trong đó có cậu bé Triều. Các đồng chí từ chốt về cho biết, khi vừa kéo tôi thì dụng ngay đợt xung phong mới của địch. Tiểu đội liền chia làm hai tổ vòng ra đồng, định tập kích vào lưng địch, chia lửa với các đồng chí đang chốt trên cầu, nhưng vừa ra tới gò mả thì dụng phải hai đại đội địch cũng định giở chiến thuật như ta, ta nổ súng đánh chúng bật lại, riêng Triều với khẩu AK trong tay em đã dũng cảm bám một gò mả bắn chết gần mười tên địch. Khi trực thăng bâu tới, em bắn tới viên đạn cuối cùng và đã anh dũng hy sinh. Đồng chí Triều ngã xuống khi chưa tròn mười lăm tuổi! Lửa cháy càng lúc càng mạnh, trực thăng càng bắn già hơn, lửa lại cháy trên dãy nhà đường Cử Trị và một số nơi khác. Đồng bào hoảng loạn chạy ra đường, la khóc cầu cứu vang trời. Bộ đội ta vừa đánh giặc, vừa tích cực giúp bà con chữa cháy. Nhiều cụ già, em bé bị kẹt trong lửa được chiến sĩ ta cứu thoát.

15 giờ 30 phút... chợt có tiếng rầm rầm rù rù, nghe càng lúc càng rõ dần. Một đồng chí cảnh giới chạy về cho biết: Xe đốt-cát (nồi đồng) địch từ hướng núi kéo ra rất đông? Chúng tôi lập tức ra lệnh tập trung súng lớn, bố trí lại đội hình chuẩn bị đánh xe.

Một lúc sau, chiếc xe đầu xuất hiện. Nó chậm chạp bò tới, khẩu đại liên trên xe khạc đạn ào ào. Khi còn cách trạm Control, nơi chúng tôi bố trí đội hình khoảng hai trăm thước, bồng nó ngừng lại, từ đầu xe tên lính ló đầu ra nhìn dáo đác. Các mũi súng của chúng tôi đều hướng vào chiếc xe đầu. Sau một loạt đại liên địch, tôi quay lại các chiến sĩ, nói to:

- Các đồng chí! Trước khi đánh vào thị xã, chúng ta đã thề dưới cờ tổ quốc: "Thề quyết tử cho tổ quốc quyết sinh", hàng chữ đỏ ấy đang ở trên ngực các đồng chí. Đây là trận quyết chiến giữa ta và địch. Các đồng chí hãy phát huy cao độ tinh thần cách mạng của người đảng viên, của người đoàn viên, chúng ta kiên quyết đập tan đợt phản kích này của địch.

Chiếc đốt-cát đi đầu còn cách khoảng 150m, tôi hỏi to:

- Ai xung phòng ra đánh chiếc này?

- Có tôi, anh Út? Hoàng từ gốc xoài kế bên bước ra. Giọng anh nhỏ nhẹ nhưng kiên quyết.

- Có tôi!

- Có tôi nữa!

Thêm hai chiến sĩ mang AK lao theo Hoàng. Phút chốc, cả ba mất hút sau dãy nhà sàn trước mặt. Chiếc xe nồi đồng đi đầu vẫn chậm chạp bò tới. Càng đến gần, đại liên nó càng bắn vung vãi. Nhánh cây hai bên đường đua nhau gãy răng rắc, lá bay tơi tả như bị giông tố, mặt đường tóe lửa, nhức mắt. Tì khẩu B.40 trên vách lô cốt mắt tôi vẫn dán chặt vào xe địch. Còn địch. Còn khoảng chín mươi thước, rồi bẩy mươi thước... thình lình, từ phía trước, một bóng đen vọt ra đường, anh đứng thẳng người, khẩu B41 trên vai hướng về xe địch.

"Đòò...oanh!" Một quầng lửa màu da cam trùm lên xe tăng địch. Tên lính xạ thủ đại liên chờn vờn ngã xấp qua một bên, chiếc nón sắt trên đầu văng xuống đường.

- Hoan hô đồng chí Hoàng!... Hoan hô đồng chí Hoàng?... Một số chiến sĩ nhảy ra công sự, giơ súng la to cổ vũ.

Chiếc đi đầu bị bắn cháy. Mấy chiếc sau hoảng hốt lùi lại. Bỗng một chiếc bóng to sầm từ trên chiếc xe vừa trúng đạn nhảy vội xuống đường, nó ôm chân chạy cà nhắc vô lề.

- Mỹ! Một đồng chí nào đó hô to. Tôi vỗ vai Dũng nói: "Mày nạp nó một băng coi!" Khẩu trung liên trên tay Dũng run lên, tên Mỹ ngã vật xuống, oằn oại như cá lóc bị đập đầu.

Trực thăng lại bu tới. Từ trên cao, chúng phóng rốc-két ào ào xuống dẫy nhà hai bên đường, lửa cháy rừng rực, trong phút chốc dựng lên một bức tường lửa ngăn cách ta và địch. Đoàn xe địch lùi lại, để lại xác tên Mỹ và chiếc xe đốt-cát lập loè trong lửa dữ.

Như vậy, suốt ngày mùng hai tết, trên các mũi phản kích của địch, đều bị ta bẻ gãy. Chiều đó, tại khu vực chùa Pháp Võ, Ban chỉ huy thống nhất mặt trận Châu Đốc họp. Chúng tôi nhận định ngay từ khi nổ súng tấn công, ta đã hoàn toàn làm chủ được chiến trường, đánh chiếm được hầu hết những mục tiêu vạch ra. Địch do chủ quan, lơ lỏng, cộng thêm tinh thần chiến đấu yếu kém rệu rã, nên chỉ đối phó thụ động. Bọn bên ngoài kéo đến chi viện, mặc dù quân số đông, hỏa lực yểm trợ mạnh, nhưng vấp phải các chốt thép của ta, buộc phải ghìm chân lại và tổn thất khá nặng. Tuy nhiên, trước tình hình bọn bên trong còn cố thủ và bọn bên ngoài đang dồn sức đánh vùi vô, ta lại không có lực lượng chi viện, nên không thể đánh lâu dài. Sau khi bàn bạc thống nhất, Bộ chỉ huy nhất trí ra lệnh cho các đơn vị, ngay trong đêm nay, nhanh chóng rút về căn cứ.

Đối với người chiến sĩ cách mạng, khi cầm súng ra trận xem sự sống chết là lẽ thường, thế nhưng, có những cái chết của đồng đội làm ta cứ bàng hoàng, tưng tức trong lòng. Trước khi rút lui, lại một đồng chí ta ngã xuống. Khi tiếng súng trận tạm ngừng, giữa lúc anh đang vui chuyện cùng đồng đội, thình lình một viên đạn mồ côi bay đến, và anh ngã xuống. Anh Nguyễn Văn Hoàng, người chiến sĩ giải phóng quân đã dũng cảm nổ súng đẩy lùi đoàn xe địch, người đảng viên trung thành vì sự nghiệp cách mạng. Anh ngã xuống khi tuổi vừa tròn hai mươi, chưa vợ con và cũng chưa có người yêu.

Thắm thoát mà đã mười lăm năm trôi qua, kể từ ngày mở chiến dịch đầu xuân 1968, tổng tiến công vào hang ổ Mỹ ngụy. Mười lăm năm trôi qua, Cách mạng nước ta đã vượt qua một chặng đường dài. Sau đại thắng mùa Xuân 1975, ta đã giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà và đang trên đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. Nhân dân ta đã đổ biết bao máu xương cho những chặng đường qua!...

Mười lăm năm trôi qua, thời gian có thể xóa nhòa những vụn vặt, phiền toái trong cuộc sống hằng ngày, nhưng những kỷ niệm về những tháng năm kháng chiến gian khổ mà hào hùng không bao giờ phai được trong lòng mỗi người chiến sĩ chúng tôi.

Mười lăm năm trôi qua! Bộ mặt tỉnh ta đã thay đổi khá nhiều, giờ khó tìm được dấu vết một trận đánh vang lừng vào một ngày Xuân năm nào... Một đêm về sáng, tôi đứng trên sân thượng một cơ quan, nhìn về biên giới, nghe ngọn gió vào xuân mát lành mơn man da thịt. Tôi bồi hồi nhớ lại một đêm nào từ cánh đồng B.2 đứng nhìn về hướng có ánh điện mờ nhạt hắt lên nên trời...

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn