Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

MỘT NGHỊ QUYẾT TỈNH ỦY LỊCH SỬ (12 - 1950)

Đoạn văn trình bày bối cảnh lịch sử ở Hưng Yên năm 1950 khi thực dân Pháp chiếm đóng và xây dựng hệ thống tháp canh, hương đồn để bình định vùng địch hậu, khiến phong trào cách mạng gặp nhiều khó khăn. Trước tình hình đó, Tỉnh ủy Hưng Yên đã ban hành nghị quyết tháng 12-1950, đề ra chủ trương đúng đắn: lấy dân làm gốc, giữ gìn lực lượng, kết hợp đấu tranh chính trị, quân sự và địch vận. Nghị quyết này giúp phong trào kháng chiến chuyển từ thế bị động sang chủ động, phá hệ thống tháp canh của địc

Lai Châu09/03/2026Ban Biên tập tổng hợp4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tháng 12 năm 1950, Tỉnh ủy Hưng Yên đã ra một nghị quyết lịch sử trên cơ sở tổng kết kế hoạch bình định bằng hệ thống tháp canh, hương đồn của địch, đề ra tư tưởng chỉ đạo về các mặt hoạt, động chính trị, địch vận, dân vận, quân sự, động viên quần chúng đấu tranh với địch vừa khéo léo vừa giữ gìn và phát triển lực lượng. Chính nghị quyết này đã chuyển phong trào Hưng Yên từ thế bị động sang thế chủ động, từ một tỉnh trong Liên khu 3 ở trạng thái bị kìm kẹp nặng nề nhất, đen tối nhất mà chỉ trong vòng một năm đã trở thành một tỉnh quật khởi, liên tiếp đánh thắng quân địch về mọi mặt, cả về mặt giữ vững và mở rộng cơ sở, cả về chính trị, địch vận và tác chiến tiêu diệt địch, phá tan hệ thống tháp canh, hương đồn của địch, lập nhiều chiến công quân sự khác.


Bối cảnh lịch sử lúc đó nói chung và ý nghĩa tác dụng của nghị quyết đó ra sao? Tôi là tỉnh ủy viên, lại phụ trách quân sự, thường đi sát, bàn luận với đồng chí Vũ Thơ là Bí thư Tỉnh ủy, cho nên vừa là nhân chứng, vừa là người được vinh dự tham gia việc thai nghén, xây dựng nghị quyết này, tự nhận trách nhiệm ghi lại sự kiện có ý nghĩa lịch sử này.


Ngày 22-12-1949, địch mở chiến dịch Diabolo chiếm đóng toàn tỉnh Hưng Yên và Hải Dương ở bắc sông Luộc, sau đó vài tháng chúng hành quản chiếm đóng Thái Bình ở phía nam sông Luộc và chiếm đóng Hà Nam bên hữu sông Hồng. Như vậy là tỉnh Hưng Yên không còn hình thái bốn huyện phía bắc (Mỹ Hào, Yên Mỹ, Văn Giang, Văn Lâm) là vùng tạm chiếm và năm huvện phía nam (Khoái Châu, Ân Thi, Phù Cừ, Tiên Lữ, Kim Động) là vùng tự do nữa. Toàn tỉnh không những đã bị chiếm đóng mà còn nằm sâu trong địch hậu. Muốn về Liên khu 3 phải vượt qua sông Hồng và sông Đáy, muốn lên Trung ương ở Việt Bắc phải qua tỉnh Bắc Ninh tạm chiếm và phải vượt sông Đuống và sông Cà Lồ. Tóm lại, hình thái chiến tranh hồi năm 1950 hoàn toàn bất lợi cho phong trào Hưng Yên, đòi hỏi phải có đối sách thích hợp thì mới có thể giữ gìn lực lượng, phát triển phong trào được.


Thực hiện kế hoạch "Revers" với mục đích chiếm đóng toàn bộ châu thổ sông Hồng, khai thác triệt để kho người, kho của ở đây, tất nhiên bọn địch phải tiến hành kế hoạch bình định, trong đó lấy Hưng Yên làm địa bàn trọng điểm cùng với việc đưa tên Vũ Trọng Kỳ làm tỉnh trưởng. Muốn thế, chúng phải xúc tiến lập hệ thống ngụy quyền, thực hiện chính sách chia để trị và tiêu diệt hoặc chí ít cũng đánh bật lực lượng chính trị và quân sự của ta ra khỏi khu vực của chúng. Trước hết, chúng lợi dụng một số tên như Đinh Văn Lực (một cán bộ của ta đầu hàng địch) khét tiếng gian ác, đóng ở Thiết Trụ (Khoái Châu) chuyên phá cơ sở của ta ở vùng Văn Giang, Yên Mỹ, Khoái Châu; hay là tên đội Cửu ở bốt Thổ Câu phá cơ sở của ta ở vùng huyện Ân Thi, Phù Cừ, v.v... Chúng lợi dụng một số cha cố đội lốt, tôn giáo, như ở Cao Xá (Phù Cừ), Cánh Lâm (Yên Mỹ), Ngọc Đông (Kim Động), vu cho cộng sản phá tôn giáo; hoặc những tên trong lòng hận thù với cách mạng như tổng Nham ở Hoàng Xá, Hoàng Các (Phù Cừ), tổng Thân ở xã Tân Dân (Khoái Châu) đứng lên liên lạc với Tây, xin súng về lập tề vũ trang, huy động dân đi cùng với chúng để càn quét các làng lân cận, vơ vét của cải, giết chóc, bắt bớ những dân thường, ép họ lập tề. Thêm nữa bọn Pháp trực tiếp chỉ huy ngụy quân từ vị trí đã được củng cố (như bốt Đởm, bốt Đông Tảo, bốt Đình Cao...) thường ngày đi càn quét, lùng sục hầm bí mật, bắt bớ cán bộ và dân thường, rồi đem ra xử bắn không tiếc tay, hòng uy hiếp dân ta. Câu ca dao như:

Chiều chiều ra đứng bờ đê
Trông về bốt Đởm (bốt Binh Tri) mà ghê cả người.

Nghe ra bi quan, ngao ngán và uất hận làm sao. Tuy nhiên, cái đáng nguy hiểm mang tính đặc trưng là địch đã lấy Hưng Yên làm nơi để thực hiện âm mưu lập một hệ thống tháp canh, hương đồn khá hoàn chỉnh. Chúng đã dựa vào số ít loại tề thực sự phản động thường xuyên càn quét ở các làng lân cận, vừa uy hiếp, vừa dụ dỗ, chọn lựa một số tên có thể tin cậy được, mạnh dạn phát súng lập tề võ trang (nơi ít thì dăm khẩu súng trường, nơi nhiều thì hai, ba chục khẩu), ép dân phải nộp vật liệu xây dựng để xây những lô cốt cố thủ ở bên trong, phòng khi ta tấn công. Xây dựng những hương đồn như trên, trong khi bộ đội và dân quân ta chỉ được trang bị súng trường, liên thanh, không có vũ khí công phá đồn, lại chưa đủ sức trụ lại ban ngày để đánh quân tiếp viện, thì quả là có tác dụng cho địch. Kết quả là trong vài ba tháng địch đã lập được cả một hệ thống tháp canh, hương đồn hoàn chỉnh, có sự hỗ trợ đắc lực của các vị trí lớn, cỡ đại đội, tiểu đoàn do Pháp chỉ huy, một hệ thống ngụy quyền hoàn chỉnh từ cấp tỉnh, xuống cấp huyện, cấp xã, thôn (lúc đó Hưng Yên có khoảng 550 thôn thì địch đã đóng 360 vị trí lớn nhỏ, đại đa số là tháp canh và hương đồn). Cho tới tháng 12 năm 1950, toàn tỉnh chỉ còn một xã tự do, không có tề, đó là xã Phan Tây Hồ (Tiên Lữ), gồm các thôn: Phí Xá, Canh Hoạch, Giai Lệ, v.v... Nhưng tới ngày 5-3-1951, địch chốt lại vị trí Canh Hoạch thì coi như toàn tỉnh đều có tề, ngụy quyền của địch đã có khắp nơi. Cơ sở hoạt động của ta bị tổn thất nặng nề, mất dần chỗ đứng cho cán bộ vào tuyên truyền, vận động. Cán bộ đảng viên ta một số rất anh dũng, kiên trì bám dân bám đất hoạt động nhưng không tránh khỏi bị địch bắn giết dã man. Ở tỉnh, có đồng chí Lôi - tỉnh ủy viên, bí thư huyện ủy Kim Động, đồng chí Thông - tỉnh ủy viên, bí thư huyện ủy Khoái Châu, đồng chí Trọng - bí thư huyện ủy Yên Mỹ bị địch giết hại, đồng chí Lãng (Hiệu) - tỉnh ủy viên, phụ trách địch vận, bị địch bắt, rồi đồng chí Huấn (Lễ) thay bí thư huyện ủy Kim Động cũng bị địch giết. Rất nhiều đồng chí khác ở huyện và xã cũng bị giết hại, bắt bớ. Tôi còn nhớ hình ảnh đồng chí Hốt - huyện ủy viên huyện Văn Giang. Đây là một huyện sớm bị chiếm đóng từ năm 1947, cơ sở bị mất trắng do tên Đinh Văn Lực, chánh Phả ở Cửu Cao rất phản động ngày đêm lùng sục. Thế mà đồng chí Hốt trong hai năm liền ban ngày nằm hầm bí mật ở ngoài đồng, ban đêm vào trong dân vận động, đến khi huyện sắp được giải phóng cũng bị địch bắt và giết hại.

Một số khác, tuy vẫn kiên trì kháng chiến nhưng vì địch o ép, địa bàn bị dồn hẹp, phải bật sang nơi khác; thỉnh thoảng vọt cần câu về hoạt động chớp nhoáng rồi lại ra ngoài đồng nằm hầm bí mật hoặc ra ngoài căn cứ. Lúc này ở hữu ngạn sông Hồng, nam sông Luộc hoặc đông sông Đa Lộc (các tỉnh lân cận) cũng không phải an toàn mà vẫn thỉnh thoảng bị địch càn quét. Do đó mà sự hoạt động gặp rất nhiều khó khăn trở ngại. Lòng dân vẫn âm thầm theo kháng chiến, nhưng trước thế mạnh của địch về nhiều mặt nên buộc phải ra làm hội tề, đi phu phen, tạp dịch cho địch.


Một số khác không ít do hoàn cảnh kinh tế hoặc do sợ địch khủng bố nên buộc phải năm im, cầu an, thậm chí có một số ra đầu hàng, khai báo với địch, làm tay sai cho chúng. Trong hoàn cảnh thế và lực của địch hơn ta bội phần, thế mà giữa năm 1950, tại hội nghị Quyển Sơn, ta lại đã đưa ra khẩu hiệu: "Đả phá bệnh cầu an" nhưng thiếu sự phân tích kỹ lưỡng. Đáng lẽ phải đề ra biện pháp có thể chấp nhận được đối với những anh em ở trong trạng thái "thế thì phải thế”, nhưng ngược lại, đã sinh ra hiện tượng manh động, ấu trĩ, tả khuynh, lè tẻ xảy ra những vụ giết ẩu, làm cho phong trào không thể giữ vững và phát triển được mà lại ngày càng đen tối thêm.


Trong năm 1950, ta có những thành tích đáng ghi nhớ như trận nội ứng diệt bốt An Chiểu (Tiên Lữ), trận phục kích Bạch Binh ở thôn Tam Đa (Phù Cừ) diệt một trung đội, thu một trung liên (thời kỳ này cướp được một khẩu trung liên là rất hiếm có). Khu du kích Phan Tây Hồ (Tiên Lữ) bao lần chống càn quét mà vẫn giữ được địa bàn tự do. Trận chống càn thôn Tam Nông (Tiên Lữ) chống lại một tiểu đoàn địch đi càn quét giành thắng lợi. Các gương chiến đấu của dân quân, du kích và tiểu đoàn 124 thuộc E42, cùng bộ đội địa phương tỉnh phân tán hoạt động ở các huyện Tiên Lữ, Kim Động, Yên Mỹ, v.v...


Nhưng chính vì giữa hai xu thế, một mặt thì phong trào tuy đang bị suy yếu, đen tối, nhưng lại có những gương, những trận chiến đấu anh dũng thắng lợi, cổ vũ phong trào và nhất là từ tháng 10-1950, sau chiến thắng Biên giới, nên theo xu thế chung của cả nước là phấn khởi, đồng thời lại có xu thế khác là địch càng cần phải bám chắc châu thổ sông Hồng, càng gia tăng khủng bố, khai thác kho người kho của, sinh ra bi quan lo lắng. Chính giữa hai xu thế đối lập nhau đó, làm cho người lãnh đạo, cụ thể là Tỉnh ủy Hưng Yên, sau một thời gian tĩnh tâm suy nghĩ, phải tỉnh táo đề ra những chủ trương, biện pháp thích hợp.


Tháng 4-1950, Tỉnh ủy Hưng Yên họp trước rồi triển khai hội nghị cán bộ tại Quyển Sơn, trong một cái hang ở bên hữu ngạn sông Đáy. Số lượng một cấp ủy tỉnh hồi đó chỉ có khoảng 11 hoặc 13 người. Anh Vũ Thơ mới được Liên khu ủy 3 điều động về thay thế anh Dần làm bí thư được 2 tháng, mới đang tìm hiểu phong trào nhưng rất nhiều kinh nghiệm đấu tranh với địch thời kỳ còn bí mật, trước khởi nghĩa. Tỉnh ủy hồi đó còn có anh Nguyễn Ngọc Vũ - Phó bí thư Tỉnh ủy (từ trần năm 1997), anh Lê Quý Quỳnh, anh Nguyễn Chất - Chủ tịch UBKCHC tỉnh (đã từ trần), anh Anh (bí danh là Phán, sau đã hy sinh năm 1951 do bị địch phục kích bắn chết), anh Lê Đức Thịnh, anh Phúc Kiên (đã từ trần năm 1970), anh Việt ở Tiên Lữ và tôi. (Anh Lôi, anh Thông đã bị địch giết và anh Lãng (Hiệu) bị bắt sau hòa bình được tha và đã từ trần).


Không khí hội nghị lúc đó là lạc quan tin tưởng, tuy phong trào đang gặp khó khăn. Về khách quan, cách mạng Trung Quốc thắng lợi, quân giải phóng Trung Quốc đã chiếm đóng biên giới Việt - Trung, đối diện với quân Pháp. Ta lúc đó chủ trương "tích cực chuẩn bị tổng phản công". Về chủ quan, phong trào tuy có tổn thất nhưng ta vẫn còn điều kiện bám dân, bám đất. Xu thế chính của hội nghị là muốn đánh thắng sớm quân địch, coi thường chúng và đánh giá khả năng của ta quá cao. Từ đó, đề ra một số chủ trương mang tính duy ý chí, đi ngược lại quy luật lịch sử, không phù hợp với tâm tư, nguyện vọng và khả năng của quần chúng lúc đó.


Chủ trương chính trị "đả phá bệnh cầu an", chủ trương quân sự "chống càn quét" là chủ trương đáng phải đem ra phân tích, phê phán. Sau vài tháng chủ trương đưa ra kiểm nghiệm trước, thực tế thì thấy rằng ta mới chỉ nắm được hiện tượng mà không đi sâu phân tích bản chất của vấn đề. Phải thừa nhận rằng hiện tượng cầu an trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên là phổ biến và hiện tượng địch càn quét cũng thường xuyên, liên tục, ngày nào và ở đâu cũng luôn xảy ra. Thế nhưng, ta lại không chịu đánh giá, phân tích kỹ lưỡng thế và lực cụ thể của ta và của địch lúc đó và ta cũng chưa thấu triệt tính chất đấu tranh giữa địch và ta trong điều kiện ở Hưng Yên lúc đó là địch ưu thế về mọi mặt hơn ta, về thực chất là đấu tranh với địch để giành dân, do đó mà cần phải đề ra nhiều chủ trương, biện pháp phù hợp với lòng dân và thích hợp với khả năng đấu tranh của dân. Nghị quyết đề ra không rõ ràng, thiếu sự hưởng dẫn chu đáo cho nên thực hiện đả phá bệnh cầu an thì nặng về áp đặt, chụp mũ, đối xử thì thô bạo, thậm chí có những manh động. Thực hiện chống càn quét thì nặng về hình thức, đánh trống gõ mõ, lại càng bộc lộ thêm lực lượng, tạo cho địch càng lấy cớ khủng bố cán bộ và nhân dân, càng làm cho quần chúng xa rời kháng chiến, phong trào càng sa sút.


Sau hội nghị Quyển Sơn, chúng tôi trở về để chỉ đạo phong trào. Anh Vũ Thơ và tôi thường đi sát với nhau, khi thì ở Thanh Miện (Hải Dương), khi thì ở xã Minh Tân, Nghĩa Vũ; Duyệt Văn, Duyệt Lễ (Phù Cừ), nơi nào cũng chuẩn bị sẵn hầm bí mật, người ở đầu thôn, người ở cuối thôn. Nhưng tin tức các nơi gửi về ngày càng xấu, phong trào ngày càng sa sút, cán bộ, nhân dân bị khủng bố dữ dội, tháp canh, hương đồn mọc ra như nấm.


Chính lúc đó, chúng tôi đón nhận một bức thư của Bác Hồ gửi riêng cho cán bộ và nhân dân Hưng Yên, thông cảm với hoàn cảnh đầy gian khổ và hy sinh của đồng bào và khuyến khích động viên phong trào. Riêng tôi rất thấm thía lời khuyên trong thư của Bác: "Các chú phải khéo đánh giặc, nhưng cũng phải khéo tránh giặc". Bác dùng chứ "khéo" sao mà ý nghĩa sâu xa thế. Đúng vậy, trong hoàn cảnh ở sâu địch hậu như Hưng Yên, đánh giặc và tránh giặc đều phải khéo. Khéo để giữ gìn lực lượng, khéo để giết được nhiều giặc, còn ta thì thương vong ít. Chỉ một câu, một chữ thôi cũng đã là phương châm chỉ đạo cho tôi trong suốt thời kỳ đánh giặc sau này.

Anh Vũ Thơ thường trao đổi ý kiến với tôi. Anh tỏ ra bực bội khi được tin ở nơi này, nơi nọ có những việc làm thô bạo, manh động, thậm chí xúc phạm đến mạng sống đối với một số đảng viên cầu an hoặc với người dân. Anh thường nói tới kinh nghiệm thời còn hoạt động bí mật hồi tiền khởi nghĩa, kinh nghiệm kết hợp đấu tranh hợp pháp với đấu tranh bất hợp pháp. Anh nói đại ý: Ngày nay, giặc Pháp đang tìm mọi cách dụ dỗ dân, tách dân ra khỏi hàng ngũ kháng chiến và xây dựng hệ thống tháp canh, hương đồn cũng để giành dân với ta. Cán bộ hay bộ đội như cá, và dân như nước, tình cá nước đó phải luôn gắn bó với nhau. Thí dụ, nếu địch dụ dỗ, phát chẩn gạo hay đường, sữa, nếu dân đang nghèo túng, cán bộ cúng phải theo dân đi lĩnh chẩn, nếu địch phát đủ thì ta cũng vạch tính gian dối lừa phỉnh của địch, còn nếu địch phát thiếu, ta lại càng có điều kiện vạch mặt bọn địch giả đạo đức. Nếu ta ngăn cản dân thì dễ đẩy dân theo địch.


Tôi hiểu ý kiến của anh Vũ Thơ muốn quan tâm thực chất tới cơ sở, phải có cách giữ gìn cơ sở, biết cất giấu lực lượng, nhưng luôn phải hướng dẫn quần chúng đấu tranh từ thấp lên cao; đấu tranh hợp pháp hay không hợp pháp đều không câu nệ hình thức, miễn là quần chúng luôn tin tưởng, ủng hộ ta, sẵn lòng căm thù địch.


Về phía tôi hoàn toàn nhất trí với cách đánh giá của anh Vũ Thơ về hệ thống tháp canh, hương đồn là một công cụ để thực hiện âm mưu bình định của địch đang thu đươc kết quả tạm thời. Tôi cũng đồng ý rằng, mọi hoạt động phải hướng tới phục vụ cho giữ gìn và phát triển cơ sở. Tuy nhiên, tôi là tỉnh ủy viên phụ trách về quân sự, phải chỉ đạo tác chiến như thế nào để có tác dụng giữ gìn và phát triển cơ sở lại là vấn đề cần suy nghĩ.


Đánh phục kích, quấy rối, gài mìn ư? Hình thức này may lắm là có kế hoạch diệt địch và để chúng không khủng bố cơ sở, chứ không có tác dụng phát triển cơ sở.


Chống càn quét ư? Càn và chống càn là quy luật tất yếu trong đấu tranh địch hậu. Nhưng trong điều kiện toàn tỉnh đã nằm sâu trong địch hậu, chống càn quét ở nơi nào, hình thức chống càn ra sao, nhất là bằng quân sự thì cần phải cân nhắc kỹ, nếu không rất dễ bị địch khủng bố, đốt phá, bắn giết nhân dân vô tội.


Tháng 10-1950, Hưng Yên có trận chống càn rất ngoan cường và anh dũng của dân quân, du kích và một số ít bộ đội phân tán ở thôn Tam Nông, đã đẩy lùi một tiểu đoàn địch; nhưng sau đó địch huy động lực lượng lớn hơn, có phi pháo hạng nặng yểm trợ, kết quả địch triệt hạ toàn bộ thôn Tam Nông không còn một cái nhà nào, dân làng phải sơ tán đi chỗ khác. Trận chống càn Tam Nông rất đáng biếu dương, ngày nay vẫn được ghi vào sử sách một cách xứng đáng, thế nhưng so với yêu cầu lúc đó là phải giữ gìn và phát triển cơ sở thì hình thức tác chiến này không phải ở đâu cũng là thượng sách. Cho nên, tốt hơn hết, phải tập trung nỗ lực quân sự vào nhiệm vụ cùng với lực lượng chính trị phá tan hệ thống tháp canh, hương đồn. Nhưng khả năng quân sự của ta rất hạn chế. Tôi còn nhớ, hồi tháng 7-1950, anh Đạt - huyện đội trưởng, anh Tuyên - huyện đội phó Phù Cừ đem bộ đội vây đánh bốt Viên Quang, chỉ có 4 khẩu súng mà ta vây đến sáng, nhưng vẫn phải rút quân đi do bọn hương dũng rút lên lô cốt cố thủ mà ta thì không có vũ khí công đồn.


Tôi đã phải mất nhiều ngày đêm vất vả moi óc tìm ra lời giải đáp cho câu hỏi, tôi đã đi đến kết luận là với hoàn cảnh của Hưng Yên lức này, phải tập trung sức lực, dùng hành động quân sự triệt phá tháp canh, hương đồn; đã đánh là phải thắng; thắng rồi phải giữ được cơ sở cả về chính trị và quân sự. Muốn vậy, phải được trang bị vũ khí có tác dụng công phá lô cốt và phải có biện pháp chặn đánh tiêu diệt quân ứng viện từ các vị trí xung quanh hội quân tới giải vây cho bốt hương dũng. Vũ khí công đồn phải xin ở đâu, tư tưởng chiến thuật nào để đáp ứng yêu cầu đó? Trong óc tôi cứ loay hoay tìm cách giải quyết. May thay cuối tháng 10-1950, sau chiến thắng Biên giới, tôi được triệu tập đi dự Hội nghị tổng kết chiến dịch vĩ đại này, đã giúp trang bị cho tôi những chìa khóa để giải đáp ẩn số đó. Tới đầu tháng 12-1950, ở Việt Bắc về, tôi vừa kịp dự hội nghị Tỉnh ủy Hưng Yên lịch sử này, tại thôn Nội (không nhớ tên xã), huyên Hưng Nhân (Thái Bình). Sau đây tôi xin tóm tắt tinh thần nội dung nghị quyết này.


Trước hết, anh Vũ Thơ đưa ra thảo luận bản dự thảo tổng kết hệ thống tháp canh hương đồn của địch, nhằm thống nhất nhận thức, coi hệ thống tháp canh hương đồn là biện pháp chủ yếu đế thực hiện kế hoạch bình định của chúng, hỗ trợ cho chúng vơ vét kho người, kho của của ta, đồng thời kiểm điểm sự lãnh đạo của Tỉnh ủy còn nhiều khiếm khuyết như chưa đánh giá hết âm mưu của địch, coi thường, coi nhẹ nguyện vọng bức xúc của quần chúng lúc đó; còn nặng tư tường chủ quan nóng vội, tư tưởng tả khuynh, chưa coi trọng các hình thức đấu tranh linh hoạt khác nhau.


Tỉnh ủy sau cùng đã nhất trí với báo cáo của đồng chí Vũ Thơ và nhất trí với sự chuyển hướng công tác cho phong trào Hưng Yên lúc đó, lấy việc kiên trì giành dân với địch, nắm dân là chính, giữ gìn lực lượng, không để bộc lộ cơ sở, coi trọng các hình thức đấu tranh hợp pháp, bán hợp pháp và bất hợp pháp, tùy lúc, tùy nơi mà vận dụng, không dàn đều cho toàn tỉnh làm tư tưởng chỉ đạo công tác cho toàn Đảng bộ. Biện pháp lãnh đạo được xác định như sau:

1. Tuyên truyền vận động tề, hương - tổng dũng để tạo điều kiện tổ chức quần chúng, phân loại tề, dõng, không phá tề, xáo trộn tề ở thôn xã mà ta nắm được, đưa quần chúng đấu tranh với địch với những hình thức từ thấp tới cao, từ hợp pháp tới bất hợp pháp.

2. Động viên những cán bộ, đảng viên trước đây đã sợ địch, nằm im nên trở lại công tác, kế cả công tác công khai hợp pháp nếu có yêu cầu.

3. Trong các đoàn thể quần chúng, đặc biệt coi trong đoàn thể phụ nữ, vì phụ nữ Việt Nam rất giàu lòng yêu nước, chị em lại có nhiều khả năng hoạt động công khai hơn nam giới.

Tổ chức nữ du kích ở thôn xã, nhưng không tổ chức nữ du kích tập trung (về sau phong trào nữ du kích này lấy tên là nữ du kích Hoàng Ngân).

4. Đẩy mạnh công tác địch vận, lấy vận động ngụy binh là chính; trong ngụy binh, lấy việc vận động hương, tổng dũng là chính.

5. Mọi hoạt động quân sự phải phục vụ cơ sở, không được phiêu lưu, tùy tiện, cần cân nhắc trước khi có hành động; tác chiến nào có lợi cho cơ sở thì tiến hành, có hại cho việc giữ gìn cơ sở thì hạn chế. Mọi hành động quân sự phải có kế hoạch chống khủng bố kèm theo, "đánh giặc và giữ dân" phải đi song song.

6. Chấn chỉnh lại tổ chức và phương thức hoạt động của bộ đội tỉnh. Tỉnh chỉ giữ lại 3 đại đội, trong đó đưa 2 đại đội xuống huyện phân tán hoạt động cơ sở và củng cố một đại đội được tổ chức và trang bị mạnh để tác chiến tập trung (C20 hoạt động vùng Ân Thi, C27 hoạt động vùng Kim Động và C22 (tên bí mật là 095, sau đổi tên là C92) hoạt động tập trung.

7. Kiện toàn lại bộ máy chỉ huy Tỉnh đội, trên tinh thần tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh ủy với Tỉnh đội trong việc giữ gìn và phát triển cơ sở. Trước đây, chỉ có phân công một tỉnh ủy viên phụ trách quân sự, nay phân công 3 tỉnh ủy viên; trong đó, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy trực tiếp làm chính trị viên tỉnh đội. Cụ thể, đồng chí Vũ Thơ làm chính trị viên, tôi từ chính trị viên chuyển sang làm tỉnh đội trưởng và đồng chí Phúc (Kiên) làm chính trị viên phó; còn đồng chí Phan Mạnh Hà là tỉnh đội trưởng mới về công tác ở Hưng Yên hồi đầu năm 1950, chưa quen phong trào, lại ít kinh nghiệm về công tác vận động quần chúng, xây dựng cơ sở, cho nên Tỉnh ủy đề nghị với Liên khu 3, sau đó một tháng được Tư lệnh Liên khu đồng ý quyết định chuyển đồng chí Hà về Liên khu (chẳng may do việc liên lạc giấy tờ khó khăn, đồng chí Hà đã bàn giao chuẩn bị lên đường về Liên khu thì bị địch bắt trong trận càn "Con rắn" (Reptile, hôi tháng 4-1951).

Tiện đây, cũng xin kể một câu chuyện riêng đối với tôi rất thú vị. Sau khi họp Tỉnh ủy xong; buổi tối cùng ở Nội thôn, huyện Hưng Nhân, chúng tôi họp ngay BCH Tỉnh đội Hưng Yên. Anh Vũ Thơ nói: "Để giữ bí mật hoạt động của ta, cần phải đặt tên bí danh, vậy tôi đặt tên tôi là Chính". Anh Phúc Kiên nói: "Thế thì tôi tự đặt tên là Phương". Còn tôi, ngôi ngẫm nghĩ một phút rồi nói với các anh: "Anh Thơ tên là Chính, anh Kiên là Phương, vậy tôi xin tự đặt là Đông. Ba anh em chúng tôi là Chính - Phương - Đông. Tỉnh ủy Hưng Yên ta đang lúc đen tối nhất thì ở Chính Phương đồng sẽ ló rạng đông, mặt trời sẽ tỏa sáng từ Chính Phương Đông này". Tôi tên là Hồ Quý Thoa. Sau đó tôi đổi cả họ và tên là Võ An Đông, với ý nghĩa rằng tôi đã chuyển sang quân sự, họ nhà Võ hoạt động trên đất quê thứ hai của tôi là Hưng Yên, nên lấy đệm là An, còn quê gốc tôi ở Hà Đông nên lấy tên là Đông. Từ đó (tháng 12-1950) tôi giữ mãi họ tên ấy cho tới ngày nay. Âu cũng là một kỷ niệm, đánh dấu một giai đoạn lịch sử của tôi chuyển từ thời hoạt động âm thâm, đen tối sang thời kỳ tạo ra những trận chiến thắng tiếp theo.


Như vậy, Tỉnh ủy Hưng Yên đã ra được một nghị quyết toàn diện đánh giá khá chính xác tình hình địch, ta lúc đó, đề ra phương châm, phương thức hoạt, động, quyết định các vấn đề về tổ chức Đảng, dân vận, quân sự...


Nghị quyết đã nhanh chóng thâm nhập vào trong Đảng bộ và ngoài quần chúng, biến thành thực tế sinh động, đã chỉ đạo, động viên mọi người chiến đấu, công tác, đã đập tan hệ thống tháp canh hương đồn trong vòng không đầy một năm, tạo một bước ngoặt, thực sự cho phong trào kháng chiến của Hưng Yên, làm thay đổi so sánh lực lượng giữa địch và ta, có lợi cho ta, từ chỗ địa phương không còn chỗ đứng chân, nay đã mở ra những khu du kích, căn cứ du kích rộng rãi ngày càng được củng cố, đã động viên có hiệu quả sức người, sức của, đóng góp cho công cuộc kháng chiến cả nước.


Đến nay, sau khi các sự kiện đã được lịch sử kiểm chứng, ý nghĩa của nghị quyết tháng 12-1950 của Tỉnh ủy Hưng Yên thật là lớn lao đối với phong trào Hưng Yên trong suốt mấy năm kháng chiến chống Pháp, đồng thời cũng góp phần vào kho tàng lịch sử lãnh đạo chiến tranh trong địch hậu.

1. Ý nghĩa lớn nhất của nghị quyết là Tỉnh ủy đã toàn tâm, toàn ý lấy dân làm đối tượng lãnh đạo, đối tượng phục vụ, đề ra chủ trương, biện pháp không những phù hợp với nguyện vọng mà còn phù hợp với khả năng có thể chấp nhận được của nhân dân, biết dẫn dắt quần chúng đấu tranh với địch từ thấp tới cao, vừa đánh được địch mà vẫn giữ kín lực lượng của mình, kiên quyết khắc phục hiện tượng thoát ly quần chúng, khắc phục bệnh chủ quan, nôn nóng, lấy ý chí không tưởng của mình đem áp đặt cho quần chúng, khắc phục thái độ coi thường, thô bạo đối xứ với quần chúng.

Đó là bài học muôn thuở "lấy dân làm gốc" của tổ tiến ta mà ngày nay Đảng ta vẫn noi theo. Bác Hồ cũng nhắc nhở:
Dễ trăm lần không dân cũng chịu
Khó vạn lần dân liệu vẫn xong.

Ngày đó phải trải qua bao nhiêu xương máu, nhọc nhằn, nhờ lòng yêu nước nồng nàn của quân dân ta, Tỉnh ủy mới rút được bài học tưởng rất xưa mà lại rất nay đó.

2. Ý nghĩa lớn thứ hai là Tỉnh ủy đã xuất phát từ thực tế sinh động của sự so sánh lực lượng đôi bên, từ thực lực của Đảng bộ, của dân lúc đó đang suy yếu, dám nhìn thẳng vào sự thật mà đề ra chủ trương, biện pháp, mức độ đấu tranh đúng mức, đảm bảo vẫn đánh địch thắng lợi mà vẫn giữ gìn được lực lượng.

Trong hoàn cảnh sau chiến thắng Biên giới, cả nước phấn khởi sôi sục đẩy mạnh kháng chiến, thế mà Tỉnh ủy Hưng Yên lại không để điều kiện khách quan cuốn hút, không lạc quan "tếu" mà lại đề ra khẩu hiệu đấu tranh tưởng như là hữu khuynh, thực tế lại đạt kết quả rất lớn.

Cũng cần lưu ý, là mãi nửa cuối năm 1951, Trung ương mới ra nghị quyết về phân vùng ở địch hậu, chia ra vùng tạm chiếm, vùng du kích và vùng căn cứ du kích. Nghị quyết Tỉnh ủy Hưng Yên tháng 12-1950 đã hoàn toàn nhất trí với Trung ương, đang biến nghị quyết vào cuộc sống. Đây là bài học thực tế trong đấu tranh, đúng với câu nói của Tôn Tử: "Biết địch, biết ta, trăm trận, trăm thắng".

Chủ quan, duy ý chí, giáo điều, không tưởng, đều dẫn đến sai lầm đau đớn.

3. Ý nghĩa lớn thứ ba mang đầy tính nhân bản trong thái độ đối xử với tề, ngụy, tù binh, với cán bộ, đảng viên nhất thời cầu an nằm im. Đối với tề, thì vận động lôi kéo, hướng dẫn họ tìm cách bảo vệ dân, giữ gìn cơ sở mà không để địch nghi ngờ. Mọi hành động ẩu tả đều bị phê phán và nghiêm cấm. Đối với ngụy binh, nếu bắt được chúng, không những cần chính sách khoan hồng với chúng, còn do vì ở sâu địch hậu, ta không thể giải chúng ra vùng tự do được. Tỉnh ủy chủ trương giáo dục chúng 1 hoặc 2 ngày, thậm chí vài giờ rồi thả chúng, khuyên răn chúng, nếu buộc phải đi ngụy binh tiếp thì ít nhất, đừng bắn giết đồng bào. Kết quả diễn ra thật không ngờ. Sau này, mỗi trận đánh, bắt được tù binh đều giao cho ban địch vận Tỉnh đội do anh Nguyễn Hữu Vận - trưởng ban, anh Giáp - phó ban, giáo dục rồi thả ra. Tù binh được thả về làm cái loa tuyên truyền cho chúng ta trong hàng ngũ địch, đẩy tề dõng đua nhau liên lạc với ta và sẵn sàng đầu hàng khi chạm súng với ta. Cách xử sự này thật khôn ngoan, đã làm cho hàng ngũ địch bị xôn xao về tinh thần, suy yếu về sức chiến đấu và làm cho quân ta càng mạnh lên cả thế và lực. Rất nhiều trận xảy ra sau này, vừa nổ súng đã chiến thắng, bắt được tù binh, thậm chí đối với lính Âu Phi bị bắt, nếu không giải đi được, ta cũng làm thế. Tôi còn nhớ, ngày 25-9-1951, trận đánh càn "Trái chanh" bắt được 25 tên lính người Angiêri thuộc đơn vị 4/7 RTA (tiểu đoàn 4, trung đoàn bộ binh Angiêri số 7) đưa sang Thái Bình, lại gặp trận càn "Trái quýt", ta cũng giáo dục rồi thả. Anh em cán bộ địch vận kể lại có nhiều tên rỏ nước mắt cảm ơn và từ biệt ta.


Hơn thế nữa, đối với anh em cán bộ, đảng viên cầu an, nằm im, nghị quyết Tỉnh ủy cũng yêu cầu phân loại, tuyên truyền thuyết phục họ trở lại công tác. Có một số, lúc đầu vẫn còn sợ, không dám ra nhận công tác, nhưng khi thấy phong trào lên mạnh, anh em lại vui vẻ nhận công tác, do đó mà lực lượng lãnh đạo ngày càng mạnh, càng dồi dào, nhất là lúc ta vừa mở rộng cơ sở rất thiếu những hạt nhân lãnh đạo công tác.


Cuối cùng, trong nghệ thuật tổ chức quần chúng, chỉ xin nhắc lại nghị quyết tổ chức phong trào nữ du kích Hoàng Ngàn. Phong trào đã góp phần đánh thắng quân giặc, đã xung phong đảm nhận mọi công tác như liên lạc, quân báo, hậu cần, làm cho bộ đội gọn nhẹ, thêm tai, thêm mắt, tăng tính cơ động chiến đấu rất cao mà bộ đội hoạt động ở địch hậu rất cần thiết phải có, không thể tổ chức quá nặng nề, ì ạch để lộ mục tiêu cho phi pháo địch sát hại. Phong trào nữ du kích Hoàng Ngân được lịch sử ghi nhận, đã làm rạng rỡ cho lực lượng kháng chiến Hưng Yên nói chung, cho đoàn thể phụ nữ tỉnh nói riêng.


Sự đối xử và tổ chức quần chúng đúng đắn như trên cũng thể hiện sự đánh giá bản chất, truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam và của bà con Hưng Yên, mà đại đa số là nông dân. Viết, tới đây, tôi lại nhớ lời Bác Hồ kính yêu :
Dùng người như dùng gỗ
Năm ngón tay, có ngón dài ngón ngắn
Nhưng tất cả họp lại ở nơi bàn tay


Ôi sâu sắc và thấm thía thay! 50 năm đã trôi qua, trải qua bao biến đổi, vui buồn, sướng khổ, trong tôi vẫn không phai mờ hình ảnh của hội nghị và nội dung nghị quyết. Anh Vũ Thơ, anh Nguyễn Ngọc Vũ, anh Lê Đức Thịnh (lúc đó lấy bí danh là Huyên), anh Lê Quý Quỳnh vẫn như thuở nào đây cùng hội họp với tôi. Tôi cũng không thể quên anh Chất, anh Phán (tên thực là Anh), anh Phúc(Kiên) cùng dự hội nghị lịch sử đó, nhưng nay đã từ trần.


Xin hứa với các anh, tôi rất tự hào về nghị quyết này, vì nó đã tạo một bước ngoặt lịch sử cho Hưng Yên hồi đó còn rất gian khổ và nhiều hy sinh. Tôi rất cảm ơn anh Vũ Thơ là chiến sĩ chủ công xây dựng nghị quyết này. Xin hứa với Đảng, Bác Hồ và nhân dân, xin thưa với chiến hữu cũ của tôi ở Hưng Yên, tôi viết mấy dòng này cũng là mong ta ôn lại lịch sử, ôn lại truyền thống, rút ra những bài học lịch sử không phải chỉ cho quá khứ mà cho cả hiện tại và tương lai, nhàm xây dựng tỉnh Hưng Yên thân yêu của chúng ta ngày càng giàu mạnh, phấn chấn, vững bước tiến lên.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn