MỘT NGHỊ QUYẾT TỈNH ỦY LỊCH SỬ (12 - 1950)
Đoạn văn trình bày bối cảnh lịch sử ở Hưng Yên năm 1950 khi thực dân Pháp chiếm đóng và xây dựng hệ thống tháp canh, hương đồn để bình định vùng địch hậu, khiến phong trào cách mạng gặp nhiều khó khăn. Trước tình hình đó, Tỉnh ủy Hưng Yên đã ban hành nghị quyết tháng 12-1950, đề ra chủ trương đúng đắn: lấy dân làm gốc, giữ gìn lực lượng, kết hợp đấu tranh chính trị, quân sự và địch vận. Nghị quyết này giúp phong trào kháng chiến chuyển từ thế bị động sang chủ động, phá hệ thống tháp canh của địc
Tháng 12 năm 1950, Tỉnh ủy Hưng Yên đã ra một nghị quyết lịch sử trên cơ sở tổng kết kế hoạch bình định bằng hệ thống tháp canh, hương đồn của địch, đề ra tư tưởng chỉ đạo về các mặt hoạt, động chính trị, địch vận, dân vận, quân sự, động viên quần chúng đấu tranh với địch vừa khéo léo vừa giữ gìn và phát triển lực lượng. Chính nghị quyết này đã chuyển phong trào Hưng Yên từ thế bị động sang thế chủ động, từ một tỉnh trong Liên khu 3 ở trạng thái bị kìm kẹp nặng nề nhất, đen tối nhất mà chỉ trong vòng một năm đã trở thành một tỉnh quật khởi, liên tiếp đánh thắng quân địch về mọi mặt, cả về mặt giữ vững và mở rộng cơ sở, cả về chính trị, địch vận và tác chiến tiêu diệt địch, phá tan hệ thống tháp canh, hương đồn của địch, lập nhiều chiến công quân sự khác.
Bối cảnh lịch sử lúc đó nói chung và ý nghĩa tác dụng của nghị quyết đó ra sao? Tôi là tỉnh ủy viên, lại phụ trách quân sự, thường đi sát, bàn luận với đồng chí Vũ Thơ là Bí thư Tỉnh ủy, cho nên vừa là nhân chứng, vừa là người được vinh dự tham gia việc thai nghén, xây dựng nghị quyết này, tự nhận trách nhiệm ghi lại sự kiện có ý nghĩa lịch sử này.
Ngày 22-12-1949, địch mở chiến dịch Diabolo chiếm đóng toàn tỉnh Hưng Yên và Hải Dương ở bắc sông Luộc, sau đó vài tháng chúng hành quản chiếm đóng Thái Bình ở phía nam sông Luộc và chiếm đóng Hà Nam bên hữu sông Hồng. Như vậy là tỉnh Hưng Yên không còn hình thái bốn huyện phía bắc (Mỹ Hào, Yên Mỹ, Văn Giang, Văn Lâm) là vùng tạm chiếm và năm huvện phía nam (Khoái Châu, Ân Thi, Phù Cừ, Tiên Lữ, Kim Động) là vùng tự do nữa. Toàn tỉnh không những đã bị chiếm đóng mà còn nằm sâu trong địch hậu. Muốn về Liên khu 3 phải vượt qua sông Hồng và sông Đáy, muốn lên Trung ương ở Việt Bắc phải qua tỉnh Bắc Ninh tạm chiếm và phải vượt sông Đuống và sông Cà Lồ. Tóm lại, hình thái chiến tranh hồi năm 1950 hoàn toàn bất lợi cho phong trào Hưng Yên, đòi hỏi phải có đối sách thích hợp thì mới có thể giữ gìn lực lượng, phát triển phong trào được.
Thực hiện kế hoạch "Revers" với mục đích chiếm đóng toàn bộ châu thổ sông Hồng, khai thác triệt để kho người, kho của ở đây, tất nhiên bọn địch phải tiến hành kế hoạch bình định, trong đó lấy Hưng Yên làm địa bàn trọng điểm cùng với việc đưa tên Vũ Trọng Kỳ làm tỉnh trưởng. Muốn thế, chúng phải xúc tiến lập hệ thống ngụy quyền, thực hiện chính sách chia để trị và tiêu diệt hoặc chí ít cũng đánh bật lực lượng chính trị và quân sự của ta ra khỏi khu vực của chúng. Trước hết, chúng lợi dụng một số tên như Đinh Văn Lực (một cán bộ của ta đầu hàng địch) khét tiếng gian ác, đóng ở Thiết Trụ (Khoái Châu) chuyên phá cơ sở của ta ở vùng Văn Giang, Yên Mỹ, Khoái Châu; hay là tên đội Cửu ở bốt Thổ Câu phá cơ sở của ta ở vùng huyện Ân Thi, Phù Cừ, v.v... Chúng lợi dụng một số cha cố đội lốt, tôn giáo, như ở Cao Xá (Phù Cừ), Cánh Lâm (Yên Mỹ), Ngọc Đông (Kim Động), vu cho cộng sản phá tôn giáo; hoặc những tên trong lòng hận thù với cách mạng như tổng Nham ở Hoàng Xá, Hoàng Các (Phù Cừ), tổng Thân ở xã Tân Dân (Khoái Châu) đứng lên liên lạc với Tây, xin súng về lập tề vũ trang, huy động dân đi cùng với chúng để càn quét các làng lân cận, vơ vét của cải, giết chóc, bắt bớ những dân thường, ép họ lập tề. Thêm nữa bọn Pháp trực tiếp chỉ huy ngụy quân từ vị trí đã được củng cố (như bốt Đởm, bốt Đông Tảo, bốt Đình Cao...) thường ngày đi càn quét, lùng sục hầm bí mật, bắt bớ cán bộ và dân thường, rồi đem ra xử bắn không tiếc tay, hòng uy hiếp dân ta. Câu ca dao như:
Chiều chiều ra đứng bờ đê
Trông về bốt Đởm (bốt Binh Tri) mà ghê cả người.
Nghe ra bi quan, ngao ngán và uất hận làm sao. Tuy nhiên, cái đáng nguy hiểm mang tính đặc trưng là địch đã lấy Hưng Yên làm nơi để thực hiện âm mưu lập một hệ thống tháp canh, hương đồn khá hoàn chỉnh. Chúng đã dựa vào số ít loại tề thực sự phản động thường xuyên càn quét ở các làng lân cận, vừa uy hiếp, vừa dụ dỗ, chọn lựa một số tên có thể tin cậy được, mạnh dạn phát súng lập tề võ trang (nơi ít thì dăm khẩu súng trường, nơi nhiều thì hai, ba chục khẩu), ép dân phải nộp vật liệu xây dựng để xây những lô cốt cố thủ ở bên trong, phòng khi ta tấn công. Xây dựng những hương đồn như trên, trong khi bộ đội và dân quân ta chỉ được trang bị súng trường, liên thanh, không có vũ khí công phá đồn, lại chưa đủ sức trụ lại ban ngày để đánh quân tiếp viện, thì quả là có tác dụng cho địch. Kết quả là trong vài ba tháng địch đã lập được cả một hệ thống tháp canh, hương đồn hoàn chỉnh, có sự hỗ trợ đắc lực của các vị trí lớn, cỡ đại đội, tiểu đoàn do Pháp chỉ huy, một hệ thống ngụy quyền hoàn chỉnh từ cấp tỉnh, xuống cấp huyện, cấp xã, thôn (lúc đó Hưng Yên có khoảng 550 thôn thì địch đã đóng 360 vị trí lớn nhỏ, đại đa số là tháp canh và hương đồn). Cho tới tháng 12 năm 1950, toàn tỉnh chỉ còn một xã tự do, không có tề, đó là xã Phan Tây Hồ (Tiên Lữ), gồm các thôn: Phí Xá, Canh Hoạch, Giai Lệ, v.v... Nhưng tới ngày 5-3-1951, địch chốt lại vị trí Canh Hoạch thì coi như toàn tỉnh đều có tề, ngụy quyền của địch đã có khắp nơi. Cơ sở hoạt động của ta bị tổn thất nặng nề, mất dần chỗ đứng cho cán bộ vào tuyên truyền, vận động. Cán bộ đảng viên ta một số rất anh dũng, kiên trì bám dân bám đất hoạt động nhưng không tránh khỏi bị địch bắn giết dã man. Ở tỉnh, có đồng chí Lôi - tỉnh ủy viên, bí thư huyện ủy Kim Động, đồng chí Thông - tỉnh ủy viên, bí thư huyện ủy Khoái Châu, đồng chí Trọng - bí thư huyện ủy Yên Mỹ bị địch giết hại, đồng chí Lãng (Hiệu) - tỉnh ủy viên, phụ trách địch vận, bị địch bắt, rồi đồng chí Huấn (Lễ) thay bí thư huyện ủy Kim Động cũng bị địch giết. Rất nhiều đồng chí khác ở huyện và xã cũng bị giết hại, bắt bớ. Tôi còn nhớ hình ảnh đồng chí Hốt - huyện ủy viên huyện Văn Giang. Đây là một huyện sớm bị chiếm đóng từ năm 1947, cơ sở bị mất trắng do tên Đinh Văn Lực, chánh Phả ở Cửu Cao rất phản động ngày đêm lùng sục. Thế mà đồng chí Hốt trong hai năm liền ban ngày nằm hầm bí mật ở ngoài đồng, ban đêm vào trong dân vận động, đến khi huyện sắp được giải phóng cũng bị địch bắt và giết hại.
Một số khác, tuy vẫn kiên trì kháng chiến nhưng vì địch o ép, địa bàn bị dồn hẹp, phải bật sang nơi khác; thỉnh thoảng vọt cần câu về hoạt động chớp nhoáng rồi lại ra ngoài đồng nằm hầm bí mật hoặc ra ngoài căn cứ. Lúc này ở hữu ngạn sông Hồng, nam sông Luộc hoặc đông sông Đa Lộc (các tỉnh lân cận) cũng không phải an toàn mà vẫn thỉnh thoảng bị địch càn quét. Do đó mà sự hoạt động gặp rất nhiều khó khăn trở ngại. Lòng dân vẫn âm thầm theo kháng chiến, nhưng trước thế mạnh của địch về nhiều mặt nên buộc phải ra làm hội tề, đi phu phen, tạp dịch cho địch.
Một số khác không ít do hoàn cảnh kinh tế hoặc do sợ địch khủng bố nên buộc phải năm im, cầu an, thậm chí có một số ra đầu hàng, khai báo với địch, làm tay sai cho chúng. Trong hoàn cảnh thế và lực của địch hơn ta bội phần, thế mà giữa năm 1950, tại hội nghị Quyển Sơn, ta lại đã đưa ra khẩu hiệu: "Đả phá bệnh cầu an" nhưng thiếu sự phân tích kỹ lưỡng. Đáng lẽ phải đề ra biện pháp có thể chấp nhận được đối với những anh em ở trong trạng thái "thế thì phải thế”, nhưng ngược lại, đã sinh ra hiện tượng manh động, ấu trĩ, tả khuynh, lè tẻ xảy ra những vụ giết ẩu, làm cho phong trào không thể giữ vững và phát triển được mà lại ngày càng đen tối thêm.
Trong năm 1950, ta có những thành tích đáng ghi nhớ như trận nội ứng diệt bốt An Chiểu (Tiên Lữ), trận phục kích Bạch Binh ở thôn Tam Đa (Phù Cừ) diệt một trung đội, thu một trung liên (thời kỳ này cướp được một khẩu trung liên là rất hiếm có). Khu du kích Phan Tây Hồ (Tiên Lữ) bao lần chống càn quét mà vẫn giữ được địa bàn tự do. Trận chống càn thôn Tam Nông (Tiên Lữ) chống lại một tiểu đoàn địch đi càn quét giành thắng lợi. Các gương chiến đấu của dân quân, du kích và tiểu đoàn 124 thuộc E42, cùng bộ đội địa phương tỉnh phân tán hoạt động ở các huyện Tiên Lữ, Kim Động, Yên Mỹ, v.v...
Nhưng chính vì giữa hai xu thế, một mặt thì phong trào tuy đang bị suy yếu, đen tối, nhưng lại có những gương, những trận chiến đấu anh dũng thắng lợi, cổ vũ phong trào và nhất là từ tháng 10-1950, sau chiến thắng Biên giới, nên theo xu thế chung của cả nước là phấn khởi, đồng thời lại có xu thế khác là địch càng cần phải bám chắc châu thổ sông Hồng, càng gia tăng khủng bố, khai thác kho người kho của, sinh ra bi quan lo lắng. Chính giữa hai xu thế đối lập nhau đó, làm cho người lãnh đạo, cụ thể là Tỉnh ủy Hưng Yên, sau một thời gian tĩnh tâm suy nghĩ, phải tỉnh táo đề ra những chủ trương, biện pháp thích hợp.
Tháng 4-1950, Tỉnh ủy Hưng Yên họp trước rồi triển khai hội nghị cán bộ tại Quyển Sơn, trong một cái hang ở bên hữu ngạn sông Đáy. Số lượng một cấp ủy tỉnh hồi đó chỉ có khoảng 11 hoặc 13 người. Anh Vũ Thơ mới được Liên khu ủy 3 điều động về thay thế anh Dần làm bí thư được 2 tháng, mới đang tìm hiểu phong trào nhưng rất nhiều kinh nghiệm đấu tranh với địch thời kỳ còn bí mật, trước khởi nghĩa. Tỉnh ủy hồi đó còn có anh Nguyễn Ngọc Vũ - Phó bí thư Tỉnh ủy (từ trần năm 1997), anh Lê Quý Quỳnh, anh Nguyễn Chất - Chủ tịch UBKCHC tỉnh (đã từ trần), anh Anh (bí danh là Phán, sau đã hy sinh năm 1951 do bị địch phục kích bắn chết), anh Lê Đức Thịnh, anh Phúc Kiên (đã từ trần năm 1970), anh Việt ở Tiên Lữ và tôi. (Anh Lôi, anh Thông đã bị địch giết và anh Lãng (Hiệu) bị bắt sau hòa bình được tha và đã từ trần).
Không khí hội nghị lúc đó là lạc quan tin tưởng, tuy phong trào đang gặp khó khăn. Về khách quan, cách mạng Trung Quốc thắng lợi, quân giải phóng Trung Quốc đã chiếm đóng biên giới Việt - Trung, đối diện với quân Pháp. Ta lúc đó chủ trương "tích cực chuẩn bị tổng phản công". Về chủ quan, phong trào tuy có tổn thất nhưng ta vẫn còn điều kiện bám dân, bám đất. Xu thế chính của hội nghị là muốn đánh thắng sớm quân địch, coi thường chúng và đánh giá khả năng của ta quá cao. Từ đó, đề ra một số chủ trương mang tính duy ý chí, đi ngược lại quy luật lịch sử, không phù hợp với tâm tư, nguyện vọng và khả năng của quần chúng lúc đó.
Chủ trương chính trị "đả phá bệnh cầu an", chủ trương quân sự "chống càn quét" là chủ trương đáng phải đem ra phân tích, phê phán. Sau vài tháng chủ trương đưa ra kiểm nghiệm trước, thực tế thì thấy rằng ta mới chỉ nắm được hiện tượng mà không đi sâu phân tích bản chất của vấn đề. Phải thừa nhận rằng hiện tượng cầu an trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên là phổ biến và hiện tượng địch càn quét cũng thường xuyên, liên tục, ngày nào và ở đâu cũng luôn xảy ra. Thế nhưng, ta lại không chịu đánh giá, phân tích kỹ lưỡng thế và lực cụ thể của ta và của địch lúc đó và ta cũng chưa thấu triệt tính chất đấu tranh giữa địch và ta trong điều kiện ở Hưng Yên lúc đó là địch ưu thế về mọi mặt hơn ta, về thực chất là đấu tranh với địch để giành dân, do đó mà cần phải đề ra nhiều chủ trương, biện pháp phù hợp với lòng dân và thích hợp với khả năng đấu tranh của dân. Nghị quyết đề ra không rõ ràng, thiếu sự hưởng dẫn chu đáo cho nên thực hiện đả phá bệnh cầu an thì nặng về áp đặt, chụp mũ, đối xử thì thô bạo, thậm chí có những manh động. Thực hiện chống càn quét thì nặng về hình thức, đánh trống gõ mõ, lại càng bộc lộ thêm lực lượng, tạo cho địch càng lấy cớ khủng bố cán bộ và nhân dân, càng làm cho quần chúng xa rời kháng chiến, phong trào càng sa sút.
Sau hội nghị Quyển Sơn, chúng tôi trở về để chỉ đạo phong trào. Anh Vũ Thơ và tôi thường đi sát với nhau, khi thì ở Thanh Miện (Hải Dương), khi thì ở xã Minh Tân, Nghĩa Vũ; Duyệt Văn, Duyệt Lễ (Phù Cừ), nơi nào cũng chuẩn bị sẵn hầm bí mật, người ở đầu thôn, người ở cuối thôn. Nhưng tin tức các nơi gửi về ngày càng xấu, phong trào ngày càng sa sút, cán bộ, nhân dân bị khủng bố dữ dội, tháp canh, hương đồn mọc ra như nấm.
Chính lúc đó, chúng tôi đón nhận một bức thư của Bác Hồ gửi riêng cho cán bộ và nhân dân Hưng Yên, thông cảm với hoàn cảnh đầy gian khổ và hy sinh của đồng bào và khuyến khích động viên phong trào. Riêng tôi rất thấm thía lời khuyên trong thư của Bác: "Các chú phải khéo đánh giặc, nhưng cũng phải khéo tránh giặc". Bác dùng chứ "khéo" sao mà ý nghĩa sâu xa thế. Đúng vậy, trong hoàn cảnh ở sâu địch hậu như Hưng Yên, đánh giặc và tránh giặc đều phải khéo. Khéo để giữ gìn lực lượng, khéo để giết được nhiều giặc, còn ta thì thương vong ít. Chỉ một câu, một chữ thôi cũng đã là phương châm chỉ đạo cho tôi trong suốt thời kỳ đánh giặc sau này.
|


