Anh hùng Lực lượng vũ trang

MỘT NGƯỜI ANH HÙNG

89 năm cuộc đời với những vết sẹo làm minh chứng, nhưng trái tim và ký ức về thời người “người lính Cụ Hồ” trong tim cụ vẫn còn nguyên vẹn như thuở nào.

Phú Thọ09/02/20261. Dương Thị Hương Giang (THPT Thanh Thuỷ- Đoàn xã Thanh Thuỷ)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Hành trình nơi tuyến lửa

Câu chuyện của chàng thanh niên Nguyễn Ngọc Chu bắt đầu từ năm 1966, khi người chiến sĩ nhập ngũ và gia nhập vào trung đoàn 3, tiểu đoàn 66.E250, đóng quân ở Phú Thọ với nhiệm vụ đánh Mỹ-Ngụy.

Năm 1966, tại thung lung A Sầu thuộc huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế, A Lưới là điểm yết hầu trên đường mòn Hồ Chí Minh. Quân Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa đã xây dựng căn cứ quân sự mạnh (A Sầu, A Co, A Lưới,...) với hỏa lực phối hợp dày đặc nhằm phong tỏa, chặn đứt tuyến tiếp tế của Quân Giải Phóng. Trung đoàn 3 được huy động ra Huế để hỗ trợ kháng chiến.

“Chiều hôm ấy hắn được báo nên biết trước, nó đổ xuống nhưng mình không biết. Mình làm trận địa xong khi máy bay nó lên thì mình bắn ,áy bay thì máy bay rơi xuống. Nó đánh từ bấy đến giờ cho đến chiều rồi đến tối luôn. Tất cả có 3 khẩu 12 ly 7 hỏng tất, sau là vứt xuống cả chỗ người chết rồi chôn sau”, ông Chu nhớ lại.

Đó là trận đánh đầu tiên và đối với ông là trận đánh sâu sắc nhất trong cuộc đời người lính già. Ông Chu cho hay, xung quanh tiểu đội của ông có thám báo, báo cho lính mỹ biết vị trí và kho chứa gạo của quân ta. Ông cùng đồng đội có nhiệm vụ bảo vệ đoàn xe vận chuyển quân và hàng hoá. Công tác bảo vệ đoàn xe không chỉ bao gồm chiến đấu trực tiếp mà còn là sự phối hợp chặt chẽ giữa nguỵ trang nắm tình hình địch và kĩ năng lái xe điêu luyện.

Ấy vậy ông chu không sợ cả đồng đội của ông cũng vậy 14 người trên một chiếc xe, một tình yêu, một ý chí, một mục đích. Sự hy sinh của 13 chiến sĩ không khiến ông nản chí,”Cái trận ấy coi như mất cả súng cả người,mất 13 người còn sót mình tôi”, ông bồi hồi kể lại. Dù cả đội chỉ còn mình ông, ông vẫn chiến đấu giữa rừng bom đạn. Chiến thắng của A Sầu đã đi vào lịch sử như một minh chứng cho sự ác liệt của chiến tranh và tinh thần quả cảm của chiến sĩ Nguyễn Ngọc Chu.

Năm 1968, ông tham gia cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, tham gia chiến đấu ở khu Trị Thiên Huế. Quân và dân ta hoàn toàn làm chủ thành phố, đánh lui hàng trăm đợt phản kích của địch. Tại Sài Gòn – Gia Định, quân và dân ta tập kích nhiều mục tiêu, đánh phá làm ngưng trệ việc vận chuyển và truyền tin liên lạc của địch trong nhiều ngày. Thắng lợi rất oanh liệt của đòn tiến công và nổi dậy táo bạo, bất ngờ đó đã làm đảo lộn thế chiến của địch, làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ.

Năm 1971, ông được điều động qua Lào tham gia chiến dịch đường 9 – Nam Lào, giữ chức vụ Đại đội trưởng. Sau đó, ông ở tại Lào làm việc tới khi về hưu. Với ông, ngày chiến tranh kết thúc cũng là ngày bắt đầu 1 cuộc chiến mới: chiến đấu với những vết thương cũ và ký ức để sống trọn vẹn trong hòa bình.

Những ngày tháng không quên của người lính

Trong quá trình chiến đấu, ông từng bị thương và phải đưa về hậu cứ điều trị. Thế nhưng, những vết thương trên cơ thể không thể làm lung lay ý chí của người lính trẻ, bởi động lực lớn nhất thôi thúc ông cầm súng ra trận chính là nghĩa vụ đối với quê hương, đất nước và quyết tâm chống lại quân Mỹ – Ngụy xâm lược. Đó là quãng thời gian mà sự sống và cái chết chỉ cách nhau trong gang tấc.

Suốt những năm kháng chiến, ông Nguyễn Ngọc Chu đã có mặt ở nhiều chiến trường ác liệt như Huế, Đông Trường Sơn, sang Lào, đặc biệt là khu vực A Lưới – A Bia – Lộc Bịa, thuộc Quân khu Trị Thiên – Thừa Thiên Huế. Đây là những nơi được xem như “chảo lửa” của chiến tranh. Trong khi quân ta chỉ có súng bộ binh, thì kẻ địch lại sở hữu vũ khí hiện đại, máy bay trinh sát và bom đạn dội xuống không ngừng. Mỗi trận đánh đều là một cuộc đối mặt trực tiếp với hiểm nguy, nơi mà người lính phải chiến đấu không chỉ bằng súng đạn mà còn bằng lòng dũng cảm và tinh thần thép.

Đặc biệt, chiến trường A Lưới được ông nhắc đến với nỗi ám ảnh sâu sắc. Bom đạn trút xuống liên tiếp, làm nhiều làng mạc bị phá hủy hoàn toàn, đất đá vỡ tung, khói lửa mù mịt. Để tồn tại, bộ đội phải trực ban thường xuyên, thay đổi vị trí liên tục, tránh sự càn quét và bao vây của địch. Trong hoàn cảnh ấy, mỗi ngày trôi qua đều là một cuộc thử thách khắc nghiệt đối với ý chí con người.

Không chỉ phải đối mặt với bom đạn, người lính còn phải chịu đựng những thiếu thốn cùng cực trong sinh hoạt hằng ngày. Các chiến sĩ ngủ trong những căn hầm đất ẩm thấp, chật hẹp và thiếu không khí. Bữa ăn nơi chiến trường vô cùng đạm bạc, chỉ có rau tàu bay, rau rừng, lúa chưa chín cầm hơi qua ngày. Dụng cụ sinh hoạt cũng vô cùng thô sơ, nồi nấu ăn được cải tiến từ thùng đạn, hầm trú ẩn được đào bằng tay, vướng đầy cỏ và rễ cây. Trong điều kiện ấy, mỗi bữa ăn, mỗi giấc ngủ đều trở thành một sự chịu đựng, nhưng không ai kêu than, bởi tất cả đều hiểu rằng mình đang chiến đấu vì điều gì.

Cựu chiến binh Nguyễn Ngọc Chu còn kể lại một chi tiết khiến người nghe không khỏi nghẹn ngào. Trong một trận đánh, các chiến sĩ phải trốn và chiến đấu dưới lòng đất, trong những căn hầm tối tăm và ngột ngạt. Mỗi người chỉ được phát một chiếc đèn pin. Khi làn đạn liên tiếp ập tới và hầm bị sập, người bị mắc kẹt sẽ soi đèn pin lên trên để báo hiệu cho đồng đội rằng mình vẫn còn sống, vẫn đang chờ được cứu. Ánh sáng yếu ớt ấy không chỉ là tín hiệu sinh tồn, mà còn là niềm hy vọng mong manh giữa ranh giới sống – chết. Chỉ cần chậm trễ, người bên dưới có thể bị chôn vùi mãi mãi.

Thế nhưng, giữa tất cả những hiểm nguy đó, người lính vẫn giữ cho mình một tinh thần thép. Ông Nguyễn Ngọc Chu từng nói một câu ngắn gọn nhưng đầy sức nặng: “Không sợ, mình có súng.” Câu nói ấy không đơn thuần là sự tự tin vào vũ khí, mà còn thể hiện niềm tin vào chính nghĩa, vào đồng đội và vào chiến thắng cuối cùng. Bên cạnh đó, tình đồng chí, Người y tá Nguyễn Văn Thắng (Phù Ninh) cũng chính là bạn của cựu chiến binh Nguyễn Ngọc Chu khi địch nổ súng người y tá đó đã che chở cho đồng đội, chấp nhận đối mặt với hiểm nguy để cứu người bị thương. Ông Thắng đã hy sinh vì bị địch bắn chết, để lại nỗi đau xót và sự mất mát không gì bù đắp được cho đồng đội. Sự hy sinh ấy không chỉ cứu sống một người lính, mà còn là minh chứng cho tình đồng chí cao cả và tinh thần sẵn sàng hy sinh vì đồng đội. Qua đó càng khẳng định tình đồng đội sâu sắc chính là sợi dây gắn kết con người trong chiến tranh. Họ luôn dõi theo nhau, sẵn sàng đào cứu đồng đội khi thấy tín hiệu, dám hi sinh bảo vệ lần nhau không màng bản thân, không bao giờ bỏ rơi ai dù trong hoàn cảnh nguy hiểm nhất. Chính sự đoàn kết ấy đã giúp họ đứng vững trước bom đạn kẻ thù.

Qua lời kể chân thực của cựu chiến binh Nguyễn Ngọc Chu, ta hiểu rằng chiến tranh không chỉ là những trận đánh dữ dội, mà còn là chuỗi ngày dài của gian khổ, hy sinh và mất mát. Mà cũng chính trong hoàn cảnh khắc nghiệt ấy, lòng yêu nước, ý chí kiên cường, tinh thần dũng cảm và tình đồng đội sâu nặng của người lính Việt Nam đã tỏa sáng. Đó là những giá trị cao đẹp, góp phần làm nên chiến thắng và để lại cho thế hệ hôm nay bài học sâu sắc về sự trân trọng hòa bình.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn